Chúa Nhật 12/05/2019 – Chúa Nhật 4 PHỤC SINH năm C. – Chủ Chăn Giêsu.

Chúa Nhật 12/05/2019 – Chúa Nhật 4 PHỤC SINH năm C: Chủ Chăn Giêsu.

"Ta ban cho các chiên Ta được sống đời đời".

 

Lời Chúa: Ga 10, 27-30

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu phán rằng: "Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta cho chúng được sống đời đời; chúng sẽ không bao giờ hư mất, và không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta.

Ðiều mà Cha Ta ban cho Ta, thì cao trọng hơn tất cả, và không ai có thể cướp được khỏi tay Cha Ta. Ta và Cha Ta là một".

 

 

Suy niệm CHÚA NHẬT 4 PHỤC SINH - Năm C 2019

CHÚA NHẬT CHÚA CHIÊN LÀNH

Lời Chúa: Cv 13,14.43-52; Kh 7,9.14b-17; Ga 10,27-30

 

1. Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi - ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’ của Lm. Giuse Vũ Khắc Nghiêm)

“Chiên tôi thì nghe tiếng tôi”. Bài Tin Mừng mở đầu bằng câu nói có vẻ tầm thường, nhưng thật quan trọng. Để biết quan trọng như thế nào chúng ta thử nghe một câu truyện lịch sử thế giới sau đây:

Đại Văn Hào Lêon Tolstoi nổi tiếng nhất nước Nga đã viết một tác phẩm tựa đề: Chiến Tranh và Hòa Bình, ông mô tả lại những chiến công hiển hách của Đại Đế Napolêon, một thiên tài xưa nay chưa từng có (1769-1821). Hầu như ông đã làm bá chủ Châu Âu, quân của ông bách chiến bách thắng. Chỉ còn chiếm thủ đô nước Nga là xong. Ông kéo năm trăm nghìn quân hùng tướng mạnh, chỉ trong vòng một tháng đã đánh chiếm thủ đô Moscow. Thế là xong. Sĩ quan, binh sĩ của ông reo hò ăn mừng như chiếm được thiên đàng trần gian. Thế là quan quân tha hồ hôi của, vơ vét, thành đoàn quân cướp phá, ăn chơi, hãm hiếp, đánh lộn nhau, làm rối loạn thủ đô huy hoàng của Nga Xô. Napolêon đại đế trước kia ra lệnh như sấm sét, quan quân răm rắp nghe theo. Nay tại thủ đô chiến thắng này, ông ra lệnh không còn ai nghe nữa. Binh hùng tướng giỏi của ông trở thành những con ngựa bất kham, chỉ lo ăn chơi, cướp của, hãm hiếp. Cuối cùng, ông đành bó tay rút khỏi Moscow (Mascova), lật đật chạy trốn về Pháp với hơn ba mươi nghìn quân thân tàn ma dại, chết đói, đến nỗi ngựa cũng không còn để giết mà ăn.

Hơn nửa triệu con chiên hùng dũng tuân lệnh ông, đã bách chiến bách thắng khắp Châu Âu. Khi những con chiên đó lao đầu theo tiền của, ăn chơi, chúng không nghe lệnh ông nữa, chúng đã phải chết rữa xác rải rác trên đường chạy trốn. Nếu chúng biết nghe tiếng ông, thì vinh quang biết mấy!

Khi Đức Giêsu nói: “Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi”, chắc hẳn Người đã nhìn thấy hàng triệu, hàng tỷ những con chiên của Người đã biết lắng nghe tiếng Người, như Bài đọc II đã kể: “Tôi thấy một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi. Họ thuộc mọi nước, mọi dân mọi chi tộc và mọi ngôn ngữ, mình mặc áo trắng, tay cầm lá thiên tuế… họ đứng chầu trước ngai Thiên Chúa”. Còn chúng ta có muốn được vào số những con chiên vinh phúc đó không? Nếu muốn thì phải “chiên tôi thì nghe tiếng tôi”

Thế nào là chiên biết nghe tiếng Chúa Giêsu? Chúng ta có nhiều lần được thấy những bầy chiên trên những cánh đồng cỏ xanh tươi qua màn ảnh nhỏ. Nhưng đoàn chiên của Chúa không phải là những bầy chiên thụ động như vậy. Nếu chúng ta nghĩ thế, thì thật sai lầm chua chát!

Hình ảnh trong Kinh thánh trái với ý nghĩa sai lầm đó. Ba hành động được Đức Giêsu đề cao ở đoạn Phúc âm này về con chiên là ba tư cách đầy nhân bản, đó là lắng nghe, biết chí tình và đi theo hết mình.

1- Lắng nghe: Là tư cách chăm chú quan tâm đến người nói, tôn trọng người nói, tỏ ra mình có một mối tương quan thân tình, thân hữu với người nói. Lắng nghe là thiết yếu trong tương giao sống động giữa người với người. Lắng nghe để thông hiểu, thông cảm và hiệp thông với nhau. Người ta nói: Người thông minh là người có tai thông, mắt sáng. Thiên Chúa dựng nên con người có hai tai, hai mắt, một miệng, như vậy là nói ít, nghe nhiều, nhìn cho kỹ. Trong thực tế, khi thảo luận, chúng ta lại “cãi nhau như mổ bò”; “ông nói gà, bà nói vịt”. Những tệ hại ấy xẩy ra từ thời xây tháp Babel đến giờ. Mỗi người nói một thứ tiếng, chẳng ai hiểu ai, họ chia rẽ nhau, chỉ vì kiêu ngạo đòi lên cao tới trời (St. 11). Cho nên các ngôn sứ không ngừng kêu gọi: “Hãy lắng nghe, hỡi Israel!” (Ds. 6, 4; Amos 3, 1; Giêrêmia 7, 2; Tv. 24, 3-9) và rất nhiều lần Đức Giêsu nói: “Ai có tai để nghe thì hãy nghe”. Lời Chúa thật nhẹ nhàng êm ái nhắc bảo chúng ta: “Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi”. Đức Chúa Cha cũng kêu gọi: “Đây là Con Ta rất yêu dấu. Hãy nghe lời Người” (Mt. 17, 5). Những lời đó đang rót vào tai chúng ta để chúng ta được đức tin như Thánh Phaolô nói: “Có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Kitô” (Rm. 10, 17) hay: “Đức tin nhờ nghe: Fides ex auditu” (Ga. 3, 2)

2- Biết chí tình: “Chiên Tôi biết Tôi”. Biết về Đức Giêsu do học hỏi lời Chúa và giáo lý thì chưa đủ. Biết ở đây là biết bằng con tim, bằng tình yêu mến chí thiết bằng lòng ái mộ nồng nàn, bằng những cảm nhận trực giác sâu đậm, bằng những rung động bắt đúng tầng số của trái tim Chúa bốc lửa rực sáng vì yêu con chiên và chết đi vì con chiên. Trái tim con chiên cũng phải bốc lửa bừng bừng yêu mến Chúa chiên nhân lành như vậy, để cả hai nên một như “Tôi và Chúa Cha là một”. Sự biết chí tình chí thiết này thật sự đã được thể hiện với hai Thánh nữ Catarina và Têrêxa Hài đồng Giêsu. Catarina là người mù chữ chỉ học nơi Thánh Tâm Chúa Giêsu, và trở thành Thánh Tiến sĩ Hội Thánh. Têrêxa cũng chẳng học trường nào, chỉ học nơi tình yêu Chúa Giêsu Hài đồng, đã được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II phong làm Tiến sĩ Hột Thánh tháng 08/1997 trong Đại Hội giới trẻ thế giới tại Paris.

3- Chúng theo Tôi: Theo Tôi như Phêrô bỏ chài lưới, vợ con, cha mẹ và mọi sự để theo Thầy, như Mathêu bỏ địa vị, tiền của để theo Chúa, như Madalena bỏ đường tội lỗi bước vào đời sống mới. Đó là đổi đời, từ bỏ nếp sống cũ tiến theo nếp sống mới, một cuộc tái sinh vào đời sống mới, “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay Tôi” … và chắc hơn nữa: “Không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha”. Như vậy, chúng ta được giữ gìn trong hai đôi tay: Một bên là Cha, một bên là mẹ: Được dẫn dắt trong bình an và bảo đảm tuyệt đối. Thật là một hình ảnh tuyệt vời!

Lạy Chúa, xin cho chúng con được sống trong lòng bàn tay Chúa, bàn tay đã giơ ra cứu chữa bao nhiêu bệnh nhân, bàn tay đã giơ ra cứu vớt Phêrô khỏi chìm trong lòng biển, bàn tay đã cầm lấy bánh, tạ ơn, bẻ ra trao cho các môn đệ và nói: “Này là Mình Thầy”, bàn tay đã giang ra cho quân dữ đóng đinh. Chính bàn tay đó đang gìn giữ chúng con thật chắc chắn và không ai cướp được chúng con ra khỏi tay Chúa. Chúng con xin tạ ơn Chúa Giêsu và Chúa Cha muôn đời.

 

2. Chúa Chiên Lành

Quan đoạn Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho chúng ta thấy đặc tính của người mục tử tốt lành là biết các con chiên của mình. Và theo ngôn từ của Kinh Thánh, biết đồng nghĩa với yêu. Khi thực sự yêu thì người mục tử sống trọn một đặc tính khác cũng được Chúa Giêsu nêu lên, đó là hiến mạng sống mình cho đoàn chiên.

Trải qua dòng thời gian, có biết bao nhiêu người đã quảng đại đáp trả tiếng gọi của Chúa là làm cho hình ảnh và sứ mạng của người mục tử tốt lành được thực hiện qua chính cuộc sống dấn thân và phục vụ của họ.

Chẳng hạm một Vianney với thân hình còm cõi, đã dành trọn thời giờ để giao hoà các tội nhân với Chúa nơi toà giải tội. Một Maximilien Kolbe đã tình nguyện chết thay cho một bạn tù trong trại tập trung của Đức quốc xã thời đệ nhị thế chiến. Một cha Phêrô, người sáng lập ra cộng đoàn Emmau, nhằm hoạt động âm thầm nhưng hữu hiệu để xoa dịu những vết thương đau đớn của những kẻ nghèo túng.

Ngày nay tại một vài giáo phận miền Bắc, chỉ còn vài ba linh mục già nua. Vì tình trạng thiếu hụt linh mục trầm trọng, các ngài chưa thể và chưa đành đi nghỉ hưu. Và vì không còn đủ sức để đi đứng, nên phải nằm trên cáng cho giáo dân khiêng đi cử hành các bí tích và dâng thánh lễ từ làng này sang làng kia, cách nhau mấy chục cây số.

Ở mọi nơi và trong mọi lúc vẫn có hàng ngàn những mẫu gương của biết bao nhiêu người đã dâng hiến toàn thân để sống cho lý tưởng hiến mạng sống mình vì đoàn chiên. Chính vì thế trong thánh lễ hôm nay, Giáo Hội kêu mời chúng ta hãy dâng lên Thiên Chúa những lời cầu nguyện tha thiết cùng với những hy sinh hãm mình để xin Thiên Chúa ban thêm sức mạnh cho các linh mục và tu sĩ, để họ trở thành những vị mục tử tốt lành theo mẫu gương của Đức Kitô.

Đồng thời chúng ta cũng được mời gọi cầu nguyện để nhiều thanh niên nam nữ quảng đại đáp trả lời Chúa mời gọi để bước vào cuộc sống dâng hiến. Và riêng mỗi người chúng ta hãy lắng nghe lời Chúa và bước theo Người, bằng cách thực thi những điều Người truyền dạy, để nhờ đó, chúng ta xứng đáng là những con chiên bước đi dưới sự dẫn dắt của vị mục tử tốt lành là chính Đức Kitô.

 

3. Chúa Chiên Lành.

Vào năm 1943, xảy ra vụ năm người lính Đức bị phục kích và bị sát hại gần thành phố Chani, miền bắc nước Ý. Và thế là viên chỉ huy Đức Quốc Xã liền ra lệnh bắt 50 người thế giá nhất của thành phố đem đi xử bắn để dạy cho dân thành một bài học.

Đức Cha chánh và Đức Cha phó đã cố gắng can thiệp nhưng không hiệu quả gì. Tất cả 50 người đều bị trói, bị bịt mắt và xếp thành hàng dài. Thế rồi giây phút đen tối nhất đã đến. Tiếng còi hụ vang lên báo hiệu nhắm súng. Đức Cha chánh xin viên chỉ huy một đặc ân cuối cùng là được ôm hôn từng người sắp bị hành quyết. Ngài tìm cơ hội cho các nạn nhân được xưng tội để giao hoà với Chúa. May mắn thay, lời thỉnh cầu này được chấp nhận.

Nhưng cũng thật lạ lùng, bởi vì sau đó hai vị giám mục đã không trở về chỗ cũ, trái lại các ngài đã đứng vào hàng ngũ những người bị xử bắn. Đức Cha chánh đã lên tiếng nói với viên chỉ huy: Không phải chỉ có 50 người, nhưng tất cả là 52 người chúng tôi. Ông còn quyết định bắn chúng tôi, thì xin hãy ra lệnh. Xin Thiên Chúa tha thứ cho ông.

Vừa dứt lời, bỗng từ bầu khí nặng nề của chết chóc vang lên tiếng reo hò, bởi vì các khẩu súng đang nhắm bắn đều hạ xuống. Thế là cả chủ chăn lẫn đoàn chiên đều thoát khỏi những viên đạn của tự thần. Hôm đó từ pháp trường ra về, mục tử cũng như đoàn chiên đều sung sướng hát lời thánh vịnh: Khi Chúa dẫn từ nhân Sion trở về, ta tưởng như giấc mơ...

Hình ảnh hai vị giám mục đứng giữa những người bị xử bắn làm cho chúng ta nhớ tới Đức Kitô, vị mục tử nhân lành của chúng ta. Thực vậy, Ngài là Đấng thánh thiện và quyền năng, Ngài đã xuống thế làm người để trở thành một Emmanuel, nghĩa là một Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Hơn htế nữa, Ngài còn đồng hoá mình với chúng ta, là những kẻ tội lỗi. Không những thế, Ngài còn hy sinh mạng sống mình để cứu chuộc chúng ta khỏi án phạt của tội lỗi, như lời thánh Phaolô viết: Chúa đã yêu thương tôi và đã nộp mình chịu chết vì tôi. Ta là mục tử tốt lành. Mục tử tốt lành hiến mạng sống mình vì đoàn chiên. Còn chúng ta thì sao?

Là những con chiên trong đoàn chiên của Chúa, chúng ta cần phải lắng nghe và bước theo sự dẫn dắt của vị mục tử như lời Ngài đã phán: Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta.

Hãy thực thi những điều Chúa truyền dạy, để nhờ đó chúng ta thực sự là những con chiên trong đoàn chiên của vị mục tử nhân lành là chính Đức Kitô.

 

4. Mục tử.

Thế giới ngày nay không ngừng biến đổi, làm cho chúng ta, những người già, dường như choáng váng, không theo nổi. Chúng ta thương tiếc cho một dĩ vãng vàng son, ở đó trật tự và tương lai được bảo đảm.

Thế nhưng, thương tiếc mà làm chi, vì cái dĩ vãng đâu còn nữa. Không có gì là bền vững vì cuộc sống không ngừng đổi thay. Cái hôm nay tồn tại, thì ngay mãi sẽ bị thay thế, từ những kiểu thời trang cho đến những hiệp ước, từ những loại xe cộ cho đến những thữ vữ khí, từ những lập trường cho đến những phương thuốc trị liệu… Thế giới như quay cuồng, đầy những phân rẽ và bất đồng trong dư luận, trong đảng phái, cũng như trong chính tâm hồn mình.

Con người như chao đảo, ngả bên này, nghiêng bên kia. Nghe truyền thanh, xem truyền hình, đọc báo chí, chúng ta cảm thấy như người đang nói với chúng ta là có lý. Nhưng cái có lý ấy chẳng kéo dài được bao lâu, bởi vì khi kẻ đối lập với ông ta lên tiếng, chúng ta lại cảm thấy phần có lý ấy lại chuyển sang phe đối lập. Vì thế, chúng ta khó có thể tìm thấy chân lý, khó có thể nhận ra sự thật.

Giữa những cái trái ngược nhau như vậy, lời Chúa hôm nay vang lên, như muốn xác định cho chúng ta một lập trường dứt khoát và chắc chắn: Ta là mục tử nhân lành. Lời xác quyết này thắp lên trong chúng ta một tia sáng hy vọng, đồng thời tỏ cho chúng ta thấy một góc cạnh mới về Thiên Chúa.

Ta biết các chiên Ta. Phải, Ngài biết chúng ta không như viên kỹ sư biết một chiếc máy. Ngài biết chúng ta không như thầy cô giáo biết những người học trò. Trái lại, Ngài biết chúng ta như một người bạn biết một người bạn, và sẵn sàng hy sinh cho nhau: Ta hiến mạng sống mình đàn chiên.

Hình ảnh người mục tử nhân lành phải là hình ảnh của một người chủ chăn luôn canh giữ chuồng chiên, để đoàn chiên được an toàn. Người mục tử ấy luôn sống giữa bày chiên và luôn chăm sóc đến các con chiên, sẵn sàng chiến đấu chống lại sói dữ, không quản ngại vất vả, để lên đường tìm kiếm những con chiên lạc.

Trái tim của con người thời nay dường như đã trở nên chai đá và băng giá. Họ ít lưu tâm đến những người chung quanh. Trong vũ trụ bao la này, con người chỉ là một số không. Chẳng ai hỏi han đến chúng ta và khi chúng ta lên tiêng nói, thì cũng chẳng ai buồn nghe. Chỉ mình Đức Ki tô, vị mục tử nhân lành, luôn tồn tại giữa những đổi thay. Ngài biết chúng ta và hằng chăm sóc cho chúng ta.

Vào những thế kỷ đầu, Giáo Hội đã trải qua những năm tháng dài bị bắt bớ và cấm cách. Các tín hữu luôn bị đe doạ và gặp phải muôn vàn khó khăn, thế nhưng dưới những hang toại đạo, hình ảnh được vẽ nhiều nhất trên những bức tường, đó là hình ảnh người mục tử nhân lành. Chính hình ảnh này đã đem lại cho họ niềm ai ủi và khích lệ.

Con người thời nay đặt niềm tin tưởng của mình vào những bài diễn văn của các chính khách, nhưng rồi đến một lúc nào đó, họ nhận ra những trò bịp bợm trong lãnh vực chính trị và những mánh khoé trong phạm vi tuyên truyền, để mà bóp méo sự thật. Bấy giờ, họ cay đắng cảm thấy mình bị lừa gạt.

Còn chúng ta thì khác. Chúng ta đã đặt trót niềm tin tưởng vào Chúa Giêsu. Ngài là Đấng trung thành, không phải chỉ nói suông, không phải chỉ hứa cuội, mà Ngài còn thực hiện, còn hành động. Vì thế, trải qua hơn hai ngàn năm, hình ảnh người mục tử nhân lành vẫn còn là một hình ảnh sống động và thời sự, bời vì Ngài đã mang lấy tội lỗi của chúng ta và đã chết thay cho chúng ta trên thập giá.

Hãy tin tưởng và yêu mến Chúa Giêsu, vị mục tử nhân lành, để rồi bản thân và cuộc đời chúng ta sẽ được bình an dưới sự dẫn dắt và chăm sóc của Ngài.

 

5. Suy niệm của Lm. Carôlô Hồ Bặc Xái

Chủ Ðề: Mục tử nhân lành

I. Dẫn vào Thánh lễ

Anh chị em thân mến

Lời Chúa hôm nay trình bày Chúa Giêsu là người mục tử tốt lành: Ngài biết rõ từng người chúng ta, Ngài thí mạng sống vì chúng ta, và Ngài dẫn chúng ta tới sự sống thật. Trong Thánh lễ này, chúng ta hãy xin Chúa giúp chúng ta trở thành chiên của Ngài, không phải những con chiên bướng bỉnh mà là những con chiên biết chủ mình là ai, biết tiếng chủ và ngoan ngoãn bước theo sự dẫn dắt của chủ.

II. Gợi ý sám hối

Chúa Giêsu muốn dẫn chúng ta tới sự sống thật, còn chúng ta nhiều khi từ chối không nghe theo sự hướng dẫn của Ngài.

Chúa Giêsu biết rất rõ từng người chúng ta và yêu thương chúng ta vô cùng, thế mà lắm khi chúng ta hồ nghi tình thương của Chúa.

Chúa Giêsu đã chịu biết bao đau khổ vì chúng ta, còn chúng ta nhiều khi gặp đau khổ thì nản lòng như kẻ không có đức tin.

III. Lời Chúa

1. Bài đọc I (Cv 13,14.43-52)

Việc truyền giáo của Phaolô và Barnaba tại Antiôkhia miền Pixiđia:

- Theo thói quen, Phaolô rao giảng Tin Mừng cho người Do Thái trước tiên.

- Nhưng vì họ từ chối, nên Phaolô quay sang rao giảng cho dân ngoại.

- Dân ngoại đã hân hoan đón nhận Tin Mừng và tôn vinh Thiên Chúa.

2. Đáp ca (Tv 99)

Câu quan trọng nhất trong Tv này, và cũng là câu được dùng làp câu đáp, là: "Chúng ta là dân Chúa, là đoàn chiên Người dẫn dắt".

3. Tin Mừng (Ga 10,27-30)

Chúa Giêsu mặc khải thêm một khía cạnh của mầu nhiệm bản thân Ngài: Ngài là mục tử: "Chiên tôi thì nghe tiếng tôi. Tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi cho chúng được sự sống đời đời, chúng sẽ không bao giờ hư mất"

4. Bài đọc II (Kh 7,9.14-17)

Thị kiến của Gioan tông đồ về dân thánh Chúa:

- Họ rất đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân tộc và mọi ngôn ngữ

- Họ đứng trước ngai Con Chiên

- Con Chiên sẽ dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh.

IV. Gợi ý giảng

* 1. Đồng cỏ xanh, dòng suối mát (Ga 10,27-30)

Dương Ân Điển là đứa trẻ bị bỏ rơi, người ta nhặt được nó ở một quầy bán thịt, trong cái chợ nghèo vùng núi miền Nam đảo Đài Loan. Câu chuyện thương tâm này xảy ra năm 1974, ấy là lúc vừa lọt lòng, em đã không có hai cánh tay, chân phải thẳng đơ không thể co duỗi.

Thế mà, 25 năm sau, đứa bé tàn tật bất hạnh ấy đã trở thành nhà danh họa tài ba, chuyên vẽ tranh bằng chân và miệng. Cô đã tổ chức nhiều cuộc triển lãm ở Mỹ vàø Nhật, và là thành viên của Hiệp Hội quốc tế những người vẽ tranh bằng chân và miệng.

Cuộc đời cô thay đổi nhanh chóng như thế, thành công rực rỡ như thế, cũng là nhờ mục sư Dương Húc và vợ ông là Lâm Phương Anh nhận nuôi. Đặc biệt là ông Tưởng Kinh Quốc đã cho cô đi giải phẫu chỉnh hình cột sống, nắn chân phải, sửa đường làm cầu cho cô dễ dàng đi tới trường. Ông đã nói với cô: "Cháu không có tay, nhưng còn chân, và có thể làm được rất nhiều việc". Chính tình thương, sự chăm sóc, và lời động viên của ông Tưởng Kinh Quốc đã thay đổi số phận của một con người.

"Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi" (Ga 10,27). Thiên Chúa là chủ chiên nhân lành, Người yêu thương mỗi người chúng ta bằng một tình yêu cá biệt, cho dù chúng ta có què quặt đui mù, có xấu xa đốn mạt đến đâu, mỗi người chúng ta đều có chỗ đứng độc nhất vô nhị trong tình yêu bao bọc của Chúa; mỗi người chúng ta đều có vị trí đặc biệt trong trát tim yêu thương của Người. Tấm lòng quảng đại yêu thương của ông Tưởng Kinh Quốc dành cho cô bé tàn tật Dương Ân Điển chỉ là hình bóng tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa đối với chúng ta, những con chiên của Người.

Vâng, chiên của Chúa thì nghe Chúa, biết Chúa và theo Chúa.

- Nghe Chúa chính là lắng nghe Lời Chúa qua Kinh thánh, nơi giáo huấn của Giáo hội, và những ơn soi sáng trong tâm hồn mình. Nghe Chúa chính là để có một mối tương giao thân tình với Người, và nhất là để tin vào Người. Thánh Phao lô viết: "Có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Kitô" (Rm 10,17).

- Biết Chúa không chỉ là học hỏi và suy niệm theo nghĩa tri thức, mà chính là hiểu biết sâu xa, yêu mến thân tình, đến nỗi kết hợp cả thân xác lẫn tâm hồn. Chính tình yêu mới làm cho chúng ta nhận biết Chúa một cách đích thực đến nỗi đoán biết cả thánh ý Người.

- Theo Chúa chính là một thái độ hoàn toàn tự do, tự nguyện dấn thân, và trao phó thân phận cho duy một mình Người. Theo Chúa cũng chính là từ bỏ, từ bỏ con người cũ, nếp sống cũ, đường lối cũ. Các môn đệ đã bỏ mọi sự, Mađalêna đã bỏ đường tội lỗi, Augúttinô đã bỏ đời trụy lạc, để đi theo Người.

Nghe Chúa, Biết Chúa và Theo Chúa để được những gì? Đức Ki tô đã trả lời: "Tôi ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi" (Ga 10,28). Đoàn chiên đi theo chủ chiên nhân lành thì đồng cỏ xanh với dòng suối mát chắc chắn phải là đích đến của chúng, vì chủ chiên Giêsu chính là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Người không những ban cho chúng ta sự sống đời đời mà còn bảo đảm sự sống ấy chắc chắn không thể mất được.

Không chỉ Chúa Con mà cả Chúa Cha cũng gìn giữ, bảo vệ chúng ta trong bàn tay yêu thương của Người: "Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha" (Ga 10,29). Chúa Cha đã trao ban đoàn chiên cho Chúa Con như quà tặng quí giá nhất, nên Chúa Con cũng gìn giữ và yêu mến đoàn chiên như Chúa Cha đã yêu mến và gìn giữ vậy. Như thế, chúng ta được bảo vệ an toàn tuyệt đối trong cả hai bàn tay, của cả cha lẫn mẹ, còn hình ảnh nào đẹp hơn thế nữa!

***

Lạy Chúa, xin cho chúng con trở nên nhỏ bé đơn sơ để chúng con được nằm gọn trong bàn tay yêu thương của Chúa.

Giữa một thế giới ồn ào vì tranh giành quyền lực, của cải, xin cho chúng con lắng nghe được tiếng Chúa.

Giữa một thế giới chỉ biết tôn thờ vật chất, xin cho chúng con hiểu biết Chúa thật sâu xa để yêu mến Người thiết tha.

Giữa một thế giới chỉ biết chạy theo danh lợi thú, xin cho chúng con luôn đi theo Chúa là chủ chiên nhân lành của cuộc đời chúng con mà thôi. Amen. (Thiên Phúc)

* 2. Ngày cầu nguyện cho ơn gọi linh mục

Trong một quyển chuyện đề tựa "Quyền lực và vinh quang", nhà văn Graham Greene kể lại câu chuyện sau đây xảy ra tại một nước ở Nam Mỹ: Khi ấy một chính phủ ghét đạo lên nắm quyền và ra lệnh trục xuất tất cả các linh mục ra khỏi nước. Linh mục nào còn lén lút ở lại hoạt động thì bị bắt đem xử tử. Đa số các linh mục đã phải tuân lệnh ra khỏi nước, một số nhỏ can đảm ở lại thì cũng bị xử. Nhưng không ai ngờ là vẫn còn sót lại một linh mục. Ông này ở lại được vì không ai thèm để ý tới ông, bởi vì ông là một linh mục tội lỗi bê bối đã hồi tục. Ông không coi sóc họ đạo nào cả, cũng không lưu ý tới sự thiếu thốn của các con chiên. Hằng ngày ông lang thang đây đó để kiếm tiền và nhậu nhẹt. Về phần giáo dân, trước đây họ vẫn khinh rẻ ông, nhưng trong lúc thiếu linh mục thì họ lại cần tới ông. Người ta xin ông rửa tội, giải tội, dâng thánh lễ và xức dầu. Ông cũng sẵn sàng nhận với một điều kiện là phải có tiền: rửa tội một em bé là mấy đồng, giải tội một người là mấy đồng, xức dầu một người là mấy đồng, mỗi người dự lễ là mấy đồng... tất cả đều có giá hẳn hoi. Dĩ nhiên, như ai trong chúng ta cũng biết, ông càng làm các bí tích thì càng thêm tội bởi vì ông đang sống trong tình trạng tội lỗi. Nhưng ai ngờ con người tội lỗi ấy lại là phương tiện Chúa dùng để nuôi dưỡng đàn chiên Chúa trong lúc gian nan. Nhờ còn có ông mà giáo dân còn tiếp tục lãnh nhận được các bí tích và duy trì được đức tin của mình. Thế rồi dần dần nhà cầm quyền bắt đầu để ý đến tới những hoạt động của ông và ra lệnh truy nã ông. Ông cũng sợ bị xử tử nên lén vượt biên giới trốn sang xứ khác. Nhưng đang lúc ông sắp qua biên giới thì người ta chạy theo năn nỉ ông trở lại để giúp cho một người hấp hối. Không nỡ để một người chết không có bí tích nên ông linh mục này đã trở lại, và đã bị bắt, rồi bị đem ra pháp trường. Trước lúc bị bắn, ông đã ăn năn xin Chúa thứ tha hết mọi tội lỗi của ông và dâng linh hồn trong tay Chúa, rồi bình thản ngước đầu chờ đợi. Và ông đã trông thấy có một người lẫn trong đám đông đang đưa tay ban phép giải tội cho ông, đó là một linh mục khác vừa trốn về để tiếp tục công việc của ông, công việc của một chủ chăn đối với đàn chiên đang đói khát.

Câu chuyện cảm động trên cho chúng ta thấy hai điều:

Thứ nhất: linh mục rất cần cho đời sống đạo của giáo dân. Dĩ nhiên tín đồ của tôn giáo nào cũng cần vị lãnh đạo tinh thần của mình, nhưng người công giáo còn cần tới linh mục gấp bội. Có thể nói, cả cuộc đời người công giáo được bàn tay linh mục dẫn dắt nuôi dưỡng: Khi ta vừa mới sinh ra, bàn tay ấy đã đổ nước rửa tội cho ta; lớn lên bàn tay ấy đưa Mình Thánh Chúa cho ta rước lễ; khi ta sa ngã phạm tội, bàn tay ấy giơ lên thay quyền Chúa mà tha tội cho ta; khi ta lập gia đình, bàn tay ấy lại giơ lên chúc lành cho cuộc hôn phối của ta; và trước lúc ta nhắm mắt lìa đời, cũng bàn tay ấy xức dầu thánh chuẩn bị cho cuộc hành trình của ta về nhà Chúa. Nếu thiếu bàn tay ấy thì ta sẽ ra sao? Những người giáo dân trong câu chuyện trên mặc dù coi thường vị linh mục tội lỗi nọ nhưng họ vẫn phải cần tới ông, vẫn van xin năn nỉ ông, bởi vì trong lúc gian truân thiếu thôn ấy, chỉ có ông là có thể ban các bí tích cho họ.

Thứ hai: Linh mục là phương tiện cứu rỗi của Chúa. Chúng ta đã thấy ông linh mục trong chuyện trên đã mang ơn Chúa đến cho giáo dân nhiều như thế nào. Mặc dù ông tội lỗi, bất xứng nhưng các bí tích ông cử hành vẫn thành sự. Ông đọc " Này là Mình Ta" thì Chúa vẫn ngự vào chiếc bánh trắng; ông nói "Ta tha tội cho con" thì Chúa vẫn ban ơn tẩy sạch mọi tội lỗi trong tâm hồn người xưng tội. Linh mục thực là phương tiện Chúa dùng để ban ơn cho giáo dân..

Hôm nay là ngày Giáo hội cầu nguyện cho ơn kêu gọi linh mục. Không cần nói thêm chi nhiều, chúng ta chắc cũng ý thức nhu cầu linh mục cấp bách đến thế nào cho Giáo Hội chúng ta: chúng ta đang thiếu linh mục. Rất nhiều họ đạo không có linh mục. Ngày xưa Chúa Giêsu đã chỉ cho các môn đệ thấy những đồng lúa chín vàng và bảo "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít. Chúng con hãy cầu nguyện xin chủ ruộng cho thêm thợ gặt đến đồng lúa của Ngài". Chúa biết nhu cầu của chúng ta, nhưng Chúa muốn chúng ta phải cầu xin thì Chúa mới ban ơn. Xin gì?

Xin cho có nhiều thiếu niên, thanh niên quảng đại dâng mình cho Chúa để phục vụ các linh hồn.

Xin cho những người đang theo tiếng gọi của Chúa hôm nay, tức là các chủng sinh, các em dự tư, được bền tâm vững chí. Dù hoàn cảnh có nhiều khó khăn, nhưng Chúa đã nói "Ai bền đỗ tới cùng thì sẽ được rỗi".

Xin cho các linh mục của chúng ta được xứng đáng là những phương tiện tốt Chúa dùng để ban ơn cho giáo dân, nghĩa là xin cho các ngài được thánh thiện và bình an chăm lo việc đạo đức cho giáo dân.

* 3. Bài giảng của Thánh Cyrillô thành Alexandria (+ 444)

Dấu hiệu phân biệt ai là con chiên của Đức Kitô, ấy là thái độ sẵn sàng lắng nghe và vâng phục, trong khi dấu hiệu cho biết những con chiên lạ là sự cứng đầu.

"Lắng nghe" là chấp nhận điều được nói. Những người "lắng nghe" như thế thì "được Thiên Chúa biết", nghĩa là kết hợp với Thiên Chúa.

Thực ra chẳng ai mà Thiên Chúa không biết. Vì thế khi Đức Kitô nói "Ta biết các chiên Ta" thì có nghĩa là "Ta sẽ đón nhận chúng và cho chúng kết hợp với Ta bằng một sự hợp nhất huyền nhiệm và trường tồn".

Đức Kitô còn nói: "Các chiên của Ta thì đi theo Ta". Thực vậy, nhờ ơn thánh, các tín hữu đi theo những bước chân của Đức Kitô. Họ không tuân giữ những quy định của Lề luật, vì thực ra đó chỉ là hình bóng. Đúng ra là họ đi theo những giới răn của Đức Kitô và nhờ đó vươn mình lên tới tầm cao của ơn gọi làm con Thiên Chúa. Khi Đức Kitô lên trời, họ cũng được lên theo.

"Ta ban cho chúng sự sống đời đời": đừng hiểu sự sống này chỉ là chuỗi ngày nối tiếp nhau mà chúng ta dù là người tốt hay xấu cũng đều sở hữu sau khi sống lại, nhưng phải hiểu đây là sống trong niềm vui. Ta cũng có thể hiểu "sự sống" này theo nghĩa bí tích Thánh Thể. Nhờ Bí tích Thánh Thể, Đức Kitô tháp nhập chúng ta vào chính sự sống của Ngài, các tín hữu được thông phần vào chính xác thịt Ngài, như lời Ngài nói: "Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì sẽ có sự sống đời đời" (Ga 6,54)

* 4. Thuộc về đàn chiên của Chúa

Cảm giác được thuộc về Chúa Giêsu, được Ngài biết và yêu thương, đó là một cảm giác vô cùng an ủi. Ai mà không muốn thuộc về đàn chiên của Chúa! Thế nhưng thế nào là thuộc về đàn chiên Chúa? Muốn thuộc về đàn chiên Chúa thì phải làm sao?

Thứ nhất là phải tin vào Ngài: chúng ta gia nhập đoàn chiên Chúa và trở thành tín hữu, nghĩa là người tin.

Nhưng tin chỉ mới là bước thứ nhất. Bước thứ hai là phải nghe tiếng Ngài: "Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta". Nghe tiếng Chúa Giêsu nghĩa là chú tâm đến những lời Ngài dạy dỗ.

Thứ ba là đi theo Ngài: "Chiên của Ta đi theo Ta". Theo Chúa là thực hành lời Ngài dạy.

Liên hệ giữa chúng ta với Chúa phải là hai chiều. Con chiên phải chọn thuộc về Chúa. Chúa Giêsu không muốn và cũng không thể cứu ta ngược với ý muốn của ta. Nhưng chỉ cần ta thực lòng muốn và cố gắng thuộc về Ngài thì Ngài sẽ chăm sóc ta trong cuộc sống và trong cái chết nữa. Ngài hứa ban cho ta sự sống đời đời: "Ta ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng phải diệt vong".

Nhưng như thế không có nghĩa là hễ thuộc về Chúa thì sẽ được Ngài bảo đảm cho có một cuộc sống dễ chịu ở đời này đâu. Ngược lại là đàng khác. Những kẻ thuộc về Chúa có thể bị bách hại, nhưng ai vẫn trung thành thì sẽ được chia phần vinh quang của Ngài trên trời (bài đọc 2). Gian truân và thử thách là những cơ hội để ta chứng tỏ đức tin và lòng vâng phục Chúa.

Đàn chiên là hình ảnh của nếp sống cộng đoàn. Ngay cả trên bình diện nhân loại thôi thì ai cũng cần có cộng đoàn. Đó là lý do tại sao Chúa muốn những kẻ theo Ngài phải sống trong cộng đoàn. Trong cộng đoàn, chúng ta tìm được sự nâng đỡ, khuyến khích và tình thân. Chúng ta không thể thuộc về Chúa Giêsu mà không thuộc về đoàn chiên của Ngài. (FM)

* 5. "Ta biết chiên của Ta"

Khoảng giữa thế kỷ 19, Thánh Gioan Bosco bắt đầu hoạt động phục vụ những người trẻ nghèo nàn ở thành phố Turinô nước Ý. Họ đã sớm nhận ra ngài thực sự là một người bạn của họ. Họ yêu quý ngài đến nỗi khi ngài lâm trọng bệnh thì họ tha thiết cầu nguyện tưởng như muốn xé rách bầu trời, có người còn xin Chúa cho mình chết thay ngài. Nhờ những lời cầu nguyện ấy, Thánh Gioan Boscô đã khoẻ lại. Tình cảm trìu mến ấy không thể có được nếu Gioan Bosco và đám trẻ ấy đã không gần gũi nhau, biết nhau và yêu thương nhau.

Trong bài Tin Mừng hôm nay Chúa Giêsu nói "Ta biết chiên của Ta". Ngài biết chiên Ngài bởi vì Ngài là mục tử tốt lành. Có nhiều mức độ biết: có khi chỉ là biết mặt, biết tên; có khi biết như một người quen; có khi biết như một người bạn thân thiết.

Không biết người ta là một điều rất buồn thảm. Nhà văn Do Thái Elia Wiesel rất thương cha mình, nhưng người cha ấy đã chết trong trại tù Auschwitz năm 1944. Trong quyển tự thuật, nhà văn ấy tâm sự: "Tôi chưa bao giờ thực sự biết cha tôi. Thực đau lòng mà phải thú nhận như vậy. Tôi đã biết quá ít về người mà tôi yêu quý nhất đời ấy, người mà chỉ cần nhìn tôi một cái cũng đủ làm cho lòng tôi xao xuyến. Không hiểu những người con khác có gặp phải vấn đề như tôi không. Họ có biết cha họ không phải chỉ là một con người có nét mặt uy quyền, buổi sáng đi làm và buổi chiều trở về mang bánh đặt lên bàn ăn không?"

E rằng những lời buồn thảm trên đây cũng là tiếng than của rất nhiều đứa con khác. Ngày nay con cái không biết cha mẹ và cha mẹ không biết con cái. Muốn biết thì phải mất nhiều thời giờ và nhiều cố gắng, nhưng nó sẽ mang lại nhiều hoa trái. Còn nếu không biết thì sẽ phải gánh chịu nhiều mất mát. Đời sống trôi qua rất nhanh khiến chúng ta ít biết nhau. Mà không biết nhau thì không thể yêu thương nhau được.

"Biết" là điều rất quan trọng đối với những người-chăm-sóc (carers). Những người-chăm-sóc cần biết kẻ mà mình chăm sóc. Bước đầu là biết tên. Nhưng muốn biết thật thì phải biết cả lịch sử cuộc đời họ. Nếu không biết họ đến với ta từ một thế giới như thế nào và sẽ trở về một thế giới như thế nào thì ta chỉ coi họ như một chiếc bóng mà thôi.

Nhưng cái "biết" phải có hai chiều. Chúa Giêsu biết chiên của Ngài và chiên của Ngài cũng biết Ngài. Chúa Giêsu không sợ để cho người ta biết mình. Còn chúng ta đôi khi lại sợ. Chúng ta không muốn người khác đi vào cuộc sống chúng ta, biết chúng ta nghĩ gì, cần gì, đang lo buồn về chuyện gì và đang hy vọng những gì. Có lẽ vì chúng ta sợ người ta biết mình rõ quá rồi sẽ từ chối mình. Từ đó chúng ta chỉ muốn người ta biết chúng ta qua cái vẻ bề ngoài mà chúng ta cố tỏ ra. Thế nhưng làm sao chúng ta có thể tạo được một tình cảm trìu mến với người khác nếu chúng ta cứ giữ một khoảng cách với họ và không cho họ biết rõ chúng ta?

Đối với Chúa cũng vậy. Ngài là mục tử tốt lành. Ngài muốn ban cho chúng ta sự sống đời này và cả đời sau nữa. Nhưng phải có tương quan hai chiều. Chúng ta phải đáp lại tình thương của Ngài bằng cách lắng nghe tiếng Ngài và đi theo Ngài. (FM)

* 6. Chuyện minh họa

Trong một cuộc họp, có hai người được mời đọc Thánh Vịnh 22 "Chúa là mục tử của tôi".

Người thứ nhất là một diễn viên nhà nghề nhưng không có đức tin. Anh phát âm rất chuẩn, giọng rõ ràng, ngắt câu hợp ý. Nghe anh đọc xong ai cũng vỗ tay.

Người thứ hai là một tín hữu xác tín về đức tin. Anh phát âm không chuẩn lắm, anh còn đọc hơi nhanh nữa. Nhưng giọng anh rất tình cảm. Ai nghe anh đọc cũng đều xúc động.

Khi hai người đọc xong, người diễn viên đến bắt tay người tín hữu và khen: "Xin chúc mừng. Anh đã đọc rất hay". Người tín hữu đáp: "Không, anh mới là người đọc hay, còn tôi thì tệ quá."

Người diễn viên phân tích: "Chắc chắn là anh đọc hay hơn tôi mà. Một điều rất hiển nhiên là: Tôi thì biết Thánh Vịnh 22, còn anh thì biết Người Mục Tử."

Chúng ta hãy để ý: Tác giả Thánh vịnh 22 không nói "Chúa là một mục tử", cũng không nói "Chúa là vị Mục tử", nhưng nói "Chúa là Mục Tử của tôi". Người tín hữu kia đã đọc Thánh vịnh 22 bằng cảm nghiệm sống của mình, cho nên anh đã làm cho người khác xúc động.

* 7. Ơn gọi yêu thương

Vết thương sâu nhất là vết thương lòng:

đó là cảm giác rằng mình không được yêu,

rằng mình chẳng quý giá gì đối với ai cả.

Ngày nay nhiều người bị thương trong lòng.

Mỗi người chúng ta đều có thể chữa lành vết thương cho họ.

Chúng ta có tay để làm

có trí để hiểu

và nhất là có tim để yêu thương.

Chúa nhật hôm nay cũng là ngày ơn gọi.

Mà mọi ơn gọi đều là ơn gọi yêu thương (FM)

V. Lời nguyện cho mọi người

Chủ tế: Anh chị em thân mến, Chúa Giêsu đã sống lại vinh hiển và lên trời ngự bên hữu Chúa Cha. Chúng ta cùng chúc tụng Người và dâng lời cầu xin:

1. Chúa đã đón nhận niềm tin yêu của thánh Phêrô / và trao cho người nhiệm vụ dẫn dắt đoàn chiên Chúa / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho Đức Thánh Cha đương kim / cũng được niềm tin yêu như vậy.

2. Chúa Giêsu là Vị Mục tử nhân hậu / đã chết để cho đoàn chiên được sống dồi dào / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các vị mục tử của chúng ta / cũng sẵn lòng hy sinh tất cả cho đoàn chiên Chúa đã trao ban.

3. Hôm nay là ngày cầu nguyện cho ơn gọi linh mục và tu sĩ / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa / ban cho Giáo hội Việt nam có được nhiều ơn gọi linh mục và tu sĩ / để đoàn chiên Chúa không bao giờ thiếu người chăm sóc dưỡng nuôi.

4. Việc đào tạo linh mục tương lai cho các giáo phận / đòi hỏi phải đầu tư lâu dài và tốn kém / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết hết lòng cộng tác vào công việc cao quý này / bằng lời cầu nguyện và bằng việc quảng đại giúp đỡ Chủng Viện.

Chủ tế: Lạy Chúa Giêsu, vì yêu thương, Chúa đã chết để cho chúng con được sống và sống dồi dào. Xin cho chúng con cũng biết đền đáp phần nào tình thương của Chúa bằng chính đời sống bác ái yêu thương của chúng con. Chúa hằng sống và hiển trị muôn đời.

VI. Trong Thánh Lễ

- Kinh tiền tụng: nên dùng Kinh tiền tụng phục sinh số 2, vì có nói tới cuộc sống mới.

- Trước kinh Lạy Cha: Hiện giờ chúng ta rất giống với một đoàn chiên đang quy tụ quanh chủ chiên là Chúa Giêsu bên bàn tiệc Thánh thể. Chúng ta hãy hợp ý với Ngài dâng lên Thiên Chúa là Cha những tâm tình con thảo của chúng ta.

VII. Giải tán

Anh chị em đã biết Chúa Giêsu là mục tử dẫn dắt đời mình, cho dù có khi xem ra Ngài đang dẫn chúng ta qua thung lũng tối tăm, nhưng điếm tới cuối cùng sẽ là đồng cỏ xanh tươi, suối ngọt và bóng mát. Vậy anh chị em hãy ra về trong niềm vui mừng phó thác trọn vẹn cho Chúa Giêsu dẫn dắt.

 

6. Chúa chiên lành

Sự ồn hối hả, ồn ào, náo nhiệt... của thế giới ngày nay đã làm cho con người khó nhận ra tiếng nói của nhau. Người Kitô hữu chúng ta sẽ không dễ nhận ra tiếng Chúa nếu chúng ta cứ mãi chìm sâu trong vòng xoáy của cuộc đời. Vậy làm thế nào để chúng ta nhận ra tiếng Chúa nói với ta trong đời sống hằng ngày?

Nội dung Chúa nhật hôm nay, Giáo hội dành đặc biệt để cầu nguyện cho ơn Thiên triệu, cầu nguyện cho có nhiều bạn trẻ luôn biết mở rộng lòng mình để lắng nghe và đáp lại tiếng Chúa gọi sống đời dâng hiến. Đồng thời, chúng ta cũng không quên cầu nguyện cho các vị mục tử trong Giáo hội luôn sống thánh thiện và nhiệt thành với sứ vụ của mình.

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã nói: "Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi...". Vâng! Chúng ta được gọi là Kitô hữu, là đoàn chiên của Chúa khi chúng ta đã được lãnh nhận Bí tích Rửa tội. Nếu chúng ta xưng mình là Kitô hữu thì chúng ta phải lắng nghe lời dạy dỗ của Chúa Giêsu là Vị Mục Tử Nhân Lành. Chúng ta sẽ được nghe tiếng Chúa qua:

+ Thánh lễ: Trong Thánh lễ với các bài đọc Kinh Thánh và lời giảng huấn của linh mục, chúng ta sẽ dễ dàng được nghe lời Chúa dạy.

+ Tha nhân: Chúa kêu gọi chúng ta sống bác ái khi Chúa gởi những người nghèo đói, bệnh tật... đến với chúng ta; Chúa kêu gọi chúng ta hãy tha thứ, hãy yêu thương những người thường chống đối, chỉ trích, ghen ghét chúng ta; Chúa kêu gọi chúng ta hãy an ủi, mang niềm vui đến những người đang buồn chán, thất vọng...

+ Lương tâm: Chúa kêu gọi chúng ta hãy sống theo lương tâm ngay thẳng: đừng vì lợi lộc cá nhân mà gian dối trong mọi công việc mình đang làm để rồi nhiều người khác phảin chịu đau đớn do những việc xấu chúng ta đã gây ra.

* Câu chuyện về 2 thanh niên thôn quê và thành thị...

Kết luận

Tóm lại, qua bài Phúc Âm hôm nay, Chúa mời gọi mọi người chúng ta hãy lắng đọng tâm hồn hướng về Chúa vì khi hướng về Chúa thì chúng ta mới có thể nghe được tiếng Chúa được.

Đặc biệt, chúng ta hãy cầu nguyện nhiều cho con em chúng ta và những người trẻ trong Giáo hội luôn biết mở rộng lòng mình đáp lại lời mời gọi của Chúa, làm môn đệ của Chúa trong đời sống tu trì.

Chúng ta cũng đừng quên cầu nguyện cho Cha sở chúng ta luôn được khỏe mạnh để chăm lo cho họ đạo ngày một thăng tiến hơn. Amen.

 

7. Đồng cỏ xanh, dòng suối mát – Thiên Phúc

(Trích trong ‘Như Thầy Đã Yêu’)

Dương Ân Điển là đứa trẻ bị bỏ rơi, người ta nhặt được nó ở một quầy bán thịt, trong cái chợ nghèo vùng núi miền nam đảo Đài Loan. Câu chuyện thương tâm này xảy ra năm 1974, ấy là lúc vừa lọt lòng, em đã không có hai cánh tay, chân phải thẳng đơ không thể co duỗi.

Thế mà, 25 năm sau, đứa bé tàn tật bất hạnh ấy đã trở thành nhà danh họa tài ba, chuyên vẽ tranh bằng chân và miệng. Cô đã tổ chức nhiều cuộc triển lãm ở Mỹ và Nhật, và là thành viên của Hiệp Hội quốc tế những người vẽ tranh bằng chân và miệng.

Cuộc đời cô thay đổi nhanh chóng như thế, thành công rực rỡ như thế, cũng là nhờ mục sư Dương Húc và vợ ông là Lâm Phương Anh nhận nuôi. Đặc biệt là ông Tưởng Kinh Quốc đã cho cô đi giải phẫu chỉnh hình cột sống, nắn chân phải, sửa đường làm cầu cho cô dễ dàng đi tới trường. Ông đã nói với cô: “Cháu không có tay, nhưng còn chân, và có thể làm được rất nhiều việc”. Chính tình thương, sự chăm sóc, và lời động viên của ông Tưởng Kinh Quốc đã thay đổi số phận của một con người.

***

“Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi” (Ga 10,27). Thiên Chúa là chủ chiên nhân lành, Người yêu thương mỗi người chúng ta bằng một tình yêu cá biệt, cho dù chúng ta có què quặt đui mù, có xấu xa đốn mạt đến đâu, mỗi người chúng ta đều có chỗ đứng độc nhất vô nhị trong tình yêu bao bọc của Chúa; mỗi người chúng ta đều có vị trí đặc biệt trong trái tim yêu thương của Người. Tấm lòng quảng đại yêu thương của ông Tưởng Kinh Quốc dành cho cô bé tàn tật Dương Ân Điển chỉ là hình bóng tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa đối với chúng ta, những con chiên của Người.

Vâng, chiên của Chúa thì nghe Chúa, biết Chúa và theo Chúa.

- Nghe Chúa chính là lắng nghe Lời Chúa qua Kinh Thánh, nơi giáo huấn của Giáo Hội, và những ơn soi sáng trong tâm hồn mình. Nghe Chúa chính là để có một mối tương giao thân tình với Người, và nhất là để tin vào Người. Thánh Phaolô viết: “Có đức tin là nhờ nghe giảng, mà nghe giảng là nghe công bố lời Đức Kitô”.

- Biết Chúa không chỉ là học hỏi và suy niệm theo nghĩa tri thức, mà chính là hiểu biết sâu xa, yêu mến thân tình, đến nỗi kết hợp cả thân xác lẫn tâm hồn. Chính tình yêu mới làm cho chúng ta nhận biết Chúa một cách đích thực đến nỗi đoán biết cả thánh ý Người.

- Theo Chúa chính là một thái độ hoàn toàn tự do, tự nguyện dấn thân, và trao phó thân phận cho duy một mình Người. Theo Chúa cũng chính là từ bỏ, từ bỏ con người cũ, nếp sống cũ, đường lối cũ. Các môn đệ đã bỏ mọi sự, Mađalêna đã bỏ đường tội lỗi, Augustinô đã bỏ đời trụy lạc, để đi theo Người.

Nghe Chúa, biết Chúa và theo Chúa để được những gì? Đức Kitô đã trả lời: “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi”. Đoàn chiên đi theo chủ chiên nhân lành thì đồng cỏ xanh với dòng suối mát chắc chắn phải là đích đến của chúng, vì chủ chiên Giêsu chính là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Người không những ban cho chúng ta sự sống đời đời mà còn bảo đảm sự sống ấy chắc chắn không thể mất được.

Không chỉ Chúa Con mà cả Chúa Cha cũng gìn giữ, bảo vệ chúng ta trong bàn tay yêu thương của Người: “Cha Tôi, Đấng đã ban chúng cho Tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha”. Chúa Cha đã trao ban đoàn chiên cho Chúa Con như quà tặng quí giá nhất, nên Chúa Con cũng gìn giữ và yêu mến đoàn chiên như Chúa Cha đã yêu mến và gìn giữ vậy. Như thế, chúng ta được bảo vệ an toàn tuyệt đối trong cả hai bàn tay, của cả cha lẫn mẹ, còn hình ảnh nào đẹp hơn thế nữa.

Lạy Chúa, xin cho chúng con trở nên nhỏ bé đơn sơ, để chúng con được nằm gọn trong bàn tay yêu thương của Chúa.

Giữa một thế giới ồn ào vì tranh giành quyền lực, của cải, xin cho chúng con lắng nghe được tiếng Chúa.

Giữa một thế giới chỉ biết tôn thờ vật chất, xin cho chúng con hiểu biết Chúa thật sâu xa để yêu mến Người thiết tha.

Giữa một thế giới chỉ biết chạy theo danh lợi thú, xin cho chúng con luôn đi theo Chúa là chủ chiên nhân lành của cuộc đời chúng con mà thôi. Amen.

 

8. Đấng Chăn Chiên Lành – Cố Lm Hồng Phúc

Trong cuộc viếng thăm lịch sử của Đức Gioan-Phaolô II dành cho Hội đường Do-thái tại Lamã, Đức Thánh Cha đã gọi các thành viên Do-thái giáo là “những anh em cổ xưa của chúng tôi”.

Thật vậy, Đạo thánh chúng ta xuất thân từ Do-thái giáo như trong Bài đọc I, Sách Công vụ Tông đồ kể lại. Tại Hội đường Antiochia, Phaolô và Banabê tuyên bố: “Chúng tôi phải giảng lời Thiên Chúa cho qúi vị trước tiên, nhưng vì qúi vị từ chối lời Thiên Chúa và tự cho mình không xứng đáng sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại”. Phía dân ngoại là đạo mới, là Giáo hội, là chúng ta hết thảy. Đạo mới thoạt xuất từ đạo cũ, đạo Do-thái, “những anh em cỗ xưa của chúng ta”.

Để ám chỉ Đạo mới, Chúa Giêsu dùng nhiều hình ảnh. Nào là hình ảnh chiếc lưới không rách. Nào là tòa nhà xây trên tảng đá kiên cố, mưa sa bão táp vẫn không lay chuyển. Nào là cánh đồng trong đó có lúa tốt mọc lên bên cạnh cỏ lùng (Mt 13, 24-30). Nào là một đoàn chiên dưới sự hướng dẫn của một chủ chiên (Gio 10, 1-10).

Đây là hình ảnh mà Chúa dùng rất nhiều lần.

Chúa phán: “Ta là Đấng chăn chiên nhân lành” (Gio 10, 11).

“Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta, Ta cho chúng sự sống đời đời”. Chúa khẳng định và nhận lãnh hoàn toàn trách nhiệm trên cả Dân Chúa. Ngài cầm trong tay vận mệnh của mọi người và đưa họ đến cùng đích. Từ đầu trong Giáo hội, hình ảnh Chúa Chiên lành là biểu tượng của Chúa được khắc ghi trên bờ tường hang Toại Đạo, được phổ biến trong kinh nguyện.

Chúa là Đấng Chăn Chiên thì chúng ta, đoàn chiên của Chúa phải làm gì? Bằng một câu vắn vỏi, Chúa mô tả bổn phận chính yếu.

Chúa phán: “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta. Ta biết chúng và chúng theo Ta”. BIẾT, NGHE và THEO là ba động từ nói lên ba việc cần thiết để trở nên chiên của Chúa.

BIẾT là phải tiềm hiểu, học hỏi, suy niệm, vô tri bất mộ.

NGHE là lắng tai đón nhận lời Chúa qua Thánh Kinh, lời giảng dạy của Giáo hội, ơn soi sáng.

THEO là thực thi, là sống Đạo, là đem Đạo vào đời.

Tóm tắt, là phải có một cuộc “trở lại”.

Năm 496, tại Thành Reims, Thánh Giám mục Remi long trọng ban phép Thanh tẩy cho Vua Clovis. Thánh Giám mục tuyên bố: “Ngươi hãy cúi đầu xuống. Hãy thờ những gì xưa ngươi đã đốt và nay hãy đốt những gì ngươi đã thờ”, rồi ban phép Rửa tội cho nhà Vua, xức dầu theo hình Thánh Giá. 3000 binh sĩ của Clovis cũng được Thanh tẩy. Nước Pháp Công giáo đã khai sinh.

Lạy Chúa, Chúa là Mục Tử, xin dẫn con lần theo chính lộ, con không sợ lạc hướng.

Có Chúa với con cùng tiến bước, đi giữa suối mát cỏ xanh, con không thiếu gì.

 

9. Chiên Ta thì nghe tiếng Ta.

Người ta kể lại câu chuyện sau đây: Có ba tín hữu nọ, một ông nhà nghèo, một ông nhà giàu và người thứ ba là kẻ bất lương đều chết trong một giờ và sau đó phải ra tòa Chúa phán xét. Thiên Chúa hỏi ông nhà nghèo: - Vì lý do gì mà ngươi không lo tìm hiểu và tuân giữ Lời Chúa ghi trong sách Koran.

Anh nhà nghèo gãi tai và thưa: - Dạ! Lạy Chúa, vì con nghèo quá, nên phải đầu tắt mặt tối lo kiếm gạo nuôi thân, không còn gì cả.

Chúa trả lời: - Ông Hellen đã nghèo hơn ngươi rất nhiều thế mà có được chút tiền là ông để dành một nửa để học luật Chúa và khi nào không có tiền trả lệ phí thì ông nhịn đói, đứng ngoài trường học nghe lóm Rabbi Eliaza giảng giải Lời Chúa.

Và Thiên Chúa quay sang hỏi ông nhà giàu: - Còn ngươi. Tại sao con lại không tìm học hỏi và tuân giữ luật Chúa?

Ông nhà giàu thưa: - Dạ, tại vì con phải lo công việc quản trị của cải, tiền bạc và các dịch vụ làm ăn. Bận bịu tíu tít, còn giờ đâu mà học hỏi sự gì?

Thiên Chúa phán: - Ngươi đâu có giàu có bằng thầy Rabbi Eliaza, ông ấy có một trăm chiếc tàu buôn bán đủ mọi thứ hàng hóa và rất bận rộn với công việc kinh doanh, nhưng Rabbi Eliaza vẫn tìm ra giờ để học hỏi luật Chúa.

Sau cùng, Chúa hỏi tên bất lương: - Còn ngươi, kẻ gian ác. Tại sao ngươi đã không học hỏi luật Chúa?

Tên bất lương tìm cách chữa lỗi: - Lạy Chúa, con bị các đam mê lôi cuốn quá, nên không còn nghĩ đến gì khác nữa.

Thiên Chúa bảo hắn: - Ngươi đâu có bị người ta cám dỗ và say mê như Giuse khi sống bên Ai Cập xưa kia. Ngày đêm bị vợ quan tổng quản Putipha níu kéo, rủ rê cám dỗ phạm tội với bà ta mà vẫn chống trả tới cùng.

Thế là cả ba người đều phải án phạt sống xa rời Thiên Chúa và chôn vùi trong nơi khổ ải của âm ty, âm phủ.

Là người Kitô hữu, ai trong chúng ta cũng đều có bổn phận học hỏi, lắng nghe và tuần giữ Lời Chúa. Đây là một bổn phận thiêng liêng vô cùng quan trọng. Vì nó làm cho phần rỗi chúng ta được bảo đảm.

Trong suốt cuộc đời rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã không đề nghị với con người điều gì khác ngoài bổn phận lắng nghe Lời Chúa và đem ra thực hành trong cuộc sống hằng ngày. Đó là điểm thần học nổi bật trong sứ điệp của bài Tin Mừng hôm nay. Đây là chìa khóa thần học giúp chúng ta hiểu ý nghĩa của trình thuật Chúa Giêsu Kitô, Người Mục Tử nhân lành như thánh Gioan ghi lại trong bài Tin Mừng hôm nay.

Trong ngôn ngữ Kinh Thánh, từ "hư mất" ám chỉ tội lỗi, con người thất bại hoàn toàn trong cuộc sống ơn gọi làm người và làm con cái Thiên Chúa của mình, phải chết đời đời và xa rời Thiên Chúa vĩnh viễn. Là thụ tạo được phát minh từ bàn tay nhân hiền của Thiên Chúa, con người được đặt định trở về với bàn tay yêu thương ấy, nhưng con người đã phá đổ chương trình ấy của Thiên Chúa khi phạm tội khước từ Thiên Chúa và tự tôn mình lên địa vị của Thiên Chúa. Vì thế, Thiên Chúa mới phải sửa chữa lại bằng cách cho Đức Giêsu Kitô xuống thế làm người và giao cho Chúa Giêsu chương trình cứu độ cần phải hiện thực qua cuộc sống và lời giảng dạy của Ngài. Chúa Giêsu đến trần gian chính là để kiếm tìm những gì đã hư mất. Đôi bàn tay của Ngài cũng là đôi bàn tay của Thiên Chúa. Chương tình cứu độ của Ngài thực hiện qua Tin Mừng cứu độ. Nước Trời cũng chính là chương trình của Thiên Chúa.

Hình ảnh người mục tử nhân lành diễn tả sứ mệnh ấy của Chúa Giêsu đối với nhân loại và không ai có thể giật mất đoàn chiên tín hữu khỏi bàn tay của Ngài.

Trình thuật Chúa Giêsu là vị mục tử nhân lành gồm một số động từ diễn tả các bổn phận của chủ chăn và bổn phận của tín hữu. Nếu viết chúng thành hai cột song song, chúng ta thấy có tới bốn động từ diễn tả bổn phận của chủ chăn. Đó là nói, hiểu biết, hiến mạng sống và gìn giữ. Trong khi đó chỉ có hai động từ diễn tả bổn phận của tín hữu là lắng nghe và đi theo.

Bổn phận đầu tiên của vị chủ chăn là nói, nghĩa là giảng dạy, huấn luyện, đào tạo, khuyên nhủ, kêu mời, đề nghị, góp ý kiến. Đây là động từ bao gồm tất cả mọi sinh hoạt rao giảng của Chúa và giáo huấn của Giáo Hội. Từ việc tổ chức các khóa tĩnh tâm, huấn luyện, đào tạo mọi thành phần nhân lực mục vụ của cộng đoàn địa phương cho tới việc dùng các phương tiện và kỹ thuật truyền thông xã hội, báo chí, sách vở, tài liệu, phim ảnh, băng hình, truyền hình... để phổ biến, rao truyền Lời Chúa và phát triển lòng tin của tín hữu.

"Nói" chứ không phải là nóng nảy, bẳn gắt, la hét và mắng chửi tín hữu. Trong nghĩa này, "nói" là cả một nghệ thuật gồm nhiều tập luyện mỗi ngày, từ giọng điệu và kiểu cách cho tới các cử chỉ, từ ngữ và hình ảnh làm sao để giọng nói được ôn tồn, đầm ấm, và truyền cảm, hình ảnh được đơn sơ sáng sủa, rõ ràng, xúc tích và thích hợp hầu có thể truyền đạt Tin Mừng của Chúa đến cho tín hữu một cách hữu hiệu, xác tín và sâu xa hơn. Làm thế nào để vị chủ chăn rao giảng luôn làm giàu cho người nghe, thắp sáng lên trong tâm hồn lòng họ ngọn lửa tinh thần, nung nấu đốt cháy con tim họ và thúc đẩy họ tiến gần Thiên Chúa.

Bổn phận thứ hai của vị chủ chăn, tức là các Giám Mục, nam nữ Tu Sĩ và Giáo Dân lãnh đạo cộng đoàn là hiểu biết. Trong ngôn ngữ Kinh Thánh, hiểu biết có nghĩa là bước vào trong tương quan hiệp thông với tha nhân. Hơn ai hết, vị chủ chăn phải là người có các liên hệ huynh đệ nhân bản với tín hữu, biết chú ý đến sự khác biệt, không lẫn lộn tinh thần hiệp nhất với sự đồng nhất máy móc một chiều, không lẫn lộn cuộc sống với cảnh chạy việc, không lẫn lộn trật tự với cảnh rộn ràng vô hồn. Nhưng để có thể hiểu biết tín hữu, vị chủ chăn cần phải tiếp xúc và nhất là biết lắng nghe họ nói, biết cố gắng nhìn mọi người với con tim của mình, sẵn sàng học hỏi nơi tín hữu của mình. Các tín hữu có thể cho các vị chủ chăn biết bao nhiêu là bài học quí giá trên mọi bình diện cuộc sống, từ các đức tính xã hội, nhân bản cho đến các nhân đức Kitô, lòng tin, cậy, mến và sự thánh thiện.

Bổn phận thứ ba của chủ chăn là hiến mạng sống mình cho cộng đoàn tín hữu, chết cho họ và vì họ. Nói đúng ra, trừ các trường hợp bắt đạo bình thường thì chủ chăn ít khi phải chết vì tín hữu. Những điều mà Thiên Chúa và mọi tín hữu đều mong chờ là các chủ chăn sống hoàn toàn và trọn vẹn cho cộng đoàn, dành trọn khả năng, sức lực, thời giờ, của cải và toàn cuộc sống của mình cho tha nhân. Biết noi gương Chúa Giêsu kiên nhẫn, quảng đại, sống sát với tín hữu.Chia sẻ mọi vui buồn âu lo của họ và trở thành anh em đại đồng của mọi người. Nghĩa là vị chủ chăn không sống cho mình mà sống cho Chúa và cho cộng đoàn.

Bổn phận thứ tư của chủ chăn là giữ gìn để tín hữu khỏi bị sói dữ cắn xé để họ không xa Chúa, rời bỏ Giáo Hội, và mất đức tin. Trong thế giới ngày nay, nhiều khi rất khó nhận diện ra sói dữ, nhưng muốn bảo vệ cộng đoàn, vị chủ chăn phải để lợi ích thiêng liêng mà các linh hồn và hạnh phúc của tín hữu lên trên hết trong mọi sinh hoạt thường ngày chứ không phải các lợi lộc riêng tư, danh dự của mình hay thứ gì khác.

Về phần các tín hữu bổn phận thứ nhất là biết lắng nghe để cho Lời Chúa thấm sâu vào lòng mình và quyết định sống theo những gì Chúa nói, thực hành mọi giáo huấn của Chúa trong mọi hoàn cảnh sống thường ngày. Thái độ vâng lời ấy phải thể hiện ra trong việc cộng tác, tham gia, đóng góp vào các sinh hoạt của cộng đoàn tùy các tài khéo và bằng khả năng vật chất cũng như tinh thần của mình làm sao để cải tiến cộng đoàn, để biến nó thành một môi trường sinh động tươi vui, tràn đầy yêu thương, bác ái tương trợ lẫn nhau như trong cộng đoàn Kitô tiên khởi thời các thánh tông đồ. Cộng đoàn tham gia và đóng góp chứ không phải đứng ngoài chỉ trích, phê bình chửi rủa hay phá đám. Bởi vì nếu nghe Lời Chúa mà không hoán cải và thay đổi nếp sống cá nhân, gia đình cộng đoàn và xã hội tức là khước từ Chúa; từ chối Lời Ngài là chối bỏ lòng tin của mình.

Bổn phận thứ hai của tín hữu là đi theo, bước theo Chúa Kitô Phục Sinh để tiến về cuộc sống vĩnh cửu, để tiến về Đất Hứa. Do đó, hành trình của Kitô hữu phải là hành trình tươi vui, phấn khởi. Cuộc sống của Kitô hữu phải là cuộc sống sinh động, nhiều sáng kiến nhiều đóng góp. Khi đóng góp rõ ràng được mục đích của mình, Kitô hữu mới sẵn sàng hiến thân hy sinh và kiên trì trong những lúc gặp chướng ngại, thử thách, khó khăn và cám dỗ. Với ý thức đó, vâng lời có nghĩa là hiểu biết trách nhiệm cao độ mình phải có đối với các chủ chăn và các anh em khác trong cộng đoàn, thông cảm những khó khăn, những yếu đuối và khả năng hạn hẹp của họ và cố gắng xây dựng bù đắp cho nhau.

 

10. Chúa Nhật 4 Phục Sinh

Thiên Chúa yêu thương dân Người. Bài phúc âm hôm nay cho thấy điều đó. Tình thương của Thiên Chúa được thể hiện cụ thể nơi Đức Giêsu. Ngài yêu thương và chăm sóc từng con người như hình ảnh người chủ chiên chăm sóc từng con chiên. Để đón nhận tình thương của Ngài, chúng ta hãy biết nghe và bước theo Vị Mục Tử Giêsu.

Những trang đầu tiên trong Thánh kinh cho thấy Thiên Chúa vì yêu thương nên đã dựng nên con người. Vậy mà Con người đầu tiên đã phản bội lại tình thương ấy. Họ đã đi theo con đường mình, đã quay lại với tiếng gọi yêu thương. Con người thất bại hoàn toàn trong cuộc sống ơn gọi làm người và làm con cái Chúa của mình, phải chết đời đời. Là thụ tạo phát sinh từ bàn tay tạo dựng của Thiên Chúa, con người được đặt định trở về với đôi bàn tay yêu thương ấy, nhưng con người đã phá đổ chương trình ấy khi phạm tội, khước từ Thiên Chúa. Tuy nhiên, Thiên Chúa không bỏ rơi con người. Ngài yêu thương đến cùng, Ngài sửa chữa lại bằng cách cho Đức Giêsu Kitô xuống thế làm người và trao cho Đức Giêsu một sứ mạng, một chương trình cứu độ cần phải hiện thực qua cuộc sống, lời giảng dạy, sự chăm sóc ân cần và cuối cùng của tình yêu là chịu chết trên thập giá "thí mạng sống" mình vì đàn chiên.

Vì thế, Chúa Giêsu chính là vị mục tử tốt lành, yêu thương và tận tuỵ chăm sóc đàn chiên. Chính Ngài ban cho chúng ta sự sống đời đời (Ga 10, 28) và không ai có thể đánh cắp, giựt mất đàn chiên tín hữu khỏi bàn tay của Ngài. Do đó về phần mình, là những con chiên, là công dân của Chúa, chúng ta hãy "nghe tiếng Chúa" và "bước theo Chúa" vì "Chiên Ta thì nghe tiếng Ta". Chiên con phải biết lắng nghe chủ chiên Giêsu. Nghe tiếng Giêsu là tin nhận Lời của Ngài và bước theo Ngài, can đảm dấn thân sống Lời Chúa một cách tự do và chủ động, sống gắn bó thiết thân với Chúa, để cho Lời Chúa thấm sâu vào lòng mình và quyết định sống theo những gì Ngài muốn, thực hành giáo huấn của Chúa trong hoàn cảnh sống hằng ngày. Thái độ vâng nghe lời ấy được thể hiện trong sự cộng tác, đóng góp vào các sinh hoạt của họ đạo, làm cho họ đạo trở thành một môi trường đầy yêu thương bác ái, tương trợ lẫn nhau như trong cộng đoàn Kitô tiên khởi thời các thánh tông đồ. Như thế, tiếng Chúa đang vang dội từng ngày, từng giờ. Nó thúc bách chúng ta hăng hái, nhiệt tình, dấn thân theo Chúa trên mọi nẻo đường yêu thương, phục vụ, hy sinh. Yêu thương, phục vụ đến chỗ không còn tìm gì cho riêng mình, không giữ lấy gì cho riêng mà cho lợi ích người khác.

Do đó, làm con chiên nghe tiếng Chúa và bước theo Chúa là như thế. Làm người có đạo hôm nay dám sống đạo thật là như thế. Nghe tiếng Chúa và dám bước theo Chúa trong xã hội chúng ta hôm nay phải như thế, và như thế nhất định chúng ta sẽ được sống đời đời, không một sức lực nào có thể cướp giựt chúng ta khỏi tay Thiên Chúa.

Tuy nhiên, theo Chúa đòi người chúng ta phải gắn bó và ràng buộc cuộc đời mình vào Chúa. Điều này đòi chúng ta phải từ bỏ chính mình, phải có một con tim yêu thương và một mối quan hệ mật thiết với Chúa để chúng ta đừng đi lạc xa khỏi đoàn chiên và vị chủ chăn tốt lành. Đôi khi cuộc sống xô bồ và những lời ngọt ngào của thế gian dễ làm chúng ta rời bỏ đàn chiên. Chúng ta muốn đi xa khỏi tầm nhìn của Chúa đến độ Người không nhìn ra chúng ta. Không còn muốn nghe lời của chủ chiên. Vì không còn thấy Chúa lắng nghe, không còn chăm sóc chúng ta nên chúng ta dễ cất bước theo tiếng gọi ngọt ngào của thế gian. Thế nhưng, Chúa Giêsu, vị mục tử nhân lành vẫn yêu thương và tìm kiếm cũng như tha thứ cho chúng ta. Ngài biết rõ từng tên, từng nhu cầu của mỗi người chúng ta. Không chỉ biết, người còn cảm thông với từng hoàn cảnh của chúng ta. Người biết tận đáy lòng chúng ta, nên Người có thể chăm sóc, ủi an từng người chúng ta.

Hơn thế nữa, Người còn cho chúng ta một món quà quí giá là sự sống đời đời, sự sống của chính bản thân Người. Người đã dùng chính sự sống mình mà chuộc lấy và bảo vệ đàn chiên là chúng ta. Vì thế, chúng ta hãy sẵn sàng để cho Người chăm sóc, lo lắng cho chúng ta.

Chúa nhật IV Phục sinh hôm nay, Giáo Hội mời gọi chúng ta cầu nguyện cho các giáo sĩ và tu sĩ. Chúng ta cầu nguyện cho tất cả những người hiến đời mình để phục vụ Thiên Chúa và đoàn chiên Chúa, Giáo Hội. Và nhất là cầu nguyện xin Chúa ban ơn khuyến khích những người trẻ, biết đáp lại một cách ngay lành và quảng đại ơn gọi của Chúa để phục vụ những anh chị em khác, giúp mọi người nghe và hiểu được lời mời gọi của vị chủ chăn duy nhất trên con đường tiến đến sự sống đời đời. Giáo Hội đang thiếu các mục tử và nhất là các mục tử tốt lành, chúng ta hãy cầu xin cho giới trẻ biết lắng nghe tiếng gọi của Chúa và nhất là có đủ can đảm để bước theo tiếng gọi đó bằng cuộc sống dâng hiến trọn vẹn cho Chúa để phục vụ tha nhân... Sự hy sinh hầu như tuổi trẻ có thừa, nhưng cần rất nhiều yếu tố xã hội góp phần để tuổi trẻ thực hiện quyết định hy sinh, quảng đại của mình: cha mẹ, gia đình, và họ đạo có đóng góp phần đào tạo ơn gọi thì ơn gọi mới nảy nở và mới được đảm bảo. Trong sứ điệp ngày thế giới cầu nguyện cho ơn thiên triệu, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết: "Tôi nói với bậc cha mẹ, dựa vào lòng tin, rằng họ có thể nếm hưởng niềm vui của ân sủng sẽ vào nhà họ, khi một con trai hay con gái của họ được Chúa gọi để phục vụ Ngài... Đặc biệt, tôi hướng về giới trẻ của ngày nay và tôi nói với họ: Hãy dể cho Đấng Vĩnh Cửu quyến rủ các bạn, và tôi lập lại lời ngôn sứ Giêrêmia (20,7): "Ngài đã làm cho tôi say mê, lạy Chúa...Ngài đã chinh phục tôi và Ngài đã mạnh hơn tôi"..."Hãy để Đức Kitô quyến rủ các bạn. Hãy để gương Ngài lôi cuốn các bạn. Hãy để tình yêu của Thánh Thần yêu mến các bạn...Hãy say mê Đức Kitô để sống cuộc đời của Ngài, hầu nhân loại có sự sống trong ánh sáng Tin Mừng...". Ngài còn nhấn mạnh: "Thời đại chúng ta sẽ nghèo nàn đi biết bao, nếu sự hiện diện của những cuộc đời dâng hiến cho tình yêu trở nên khan hiếm. Xã hội chúng ta sẽ nghèo nàn đi biết bao, nếu không được thúc đẩy để ngước nhìn lên nơi có những niềm vui chân thật! Giáo Hội chúng ta cũng sẽ nghèo nàn đi biết bao, nếu thiếu những gì biểu lộ một cách cụ thể và mạnh mẽ tính thời sự vĩnh cửu của việc dâng hiến cuộc đời vì Nước Trời". Cuối cùng, Ngài giao phó giới trẻ cho Đức Trinh Nữ Maria, đặc biệt các thanh thiếu niên đã được gọi bước theo Chúa Giêsu. Mẹ biết rõ tất cả những khó khăn, chiến đấu và trở ngại các bạn trẻ phải trải qua. Xin Mẹ giúp các bạn trẻ biết nói lên câu: "Xin Vâng" đáp trả tiếng gọi của Chúa, như mẹ đã thưa khi được Sứ thần truyền tin.

Còn phần chúng ta, mỗi người nhất là giáo dân chúng ta phải biết quảng đại, hy sinh phục vụ dân Chúa trong cộng đoàn họ đạo chúng ta bằng những lời xây dựng yêu thương, bằng những đóng góp kẻ công người của để phục vụ cộng đoàn của mình. Tóm lại, mỗi người phải luôn ý thức rằng mọi việc trong họ đạo không phải chỉ là việc của linh mục, mà là của tất cả mọi người. Chúng ta hãy lắng nghe và bước theo chân Chúa Giêsu Kitô Phục sinh, để tiến về cuộc sống vĩnh cửu trong sự tươi vui phấn khởi, sẵn sàng dấn thân hy sinh và chia sẻ những khó khăn cho anh chị em đồng loại.

Lạy Chúa Giêsu là Mục tử tối cao, cám ơn Chúa đã yêu thương, tận tình chăm sóc chu đáo cho chúng con là đàn chiên Chúa, tận tình đến nỗi đã hy sinh mạng sống mình chết cho đàn chiên để chúng con được sống và sống dồi dào. Xin cho nhiều người can đảm bước theo Chúa để được nhận làm tông đồ truyền bá tình yêu và lòng thương xót của Chúa. Đồng thời, xin cho chúng con biết lắng nghe và bước theo Chúa một cách dứt khoát để không phụ tình Chúa đã yêu thương mà cứu chuộc chúng con. Amen.

 

11. Vị Chủ Chăn Nhân Lành – R. Veritas

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

Chúa Nhật thứ tư Phục Sinh là Chúa Nhật Chúa Chăn Chiên Lành, ngày cầu nguyện cho các ơn gọi linh mục, tu sĩ nam nữ. Bài Phúc Âm nhắc chúng ta nhớ lại mối tương quan giữa Chúa Giêsu và mỗi tín hữu. Chúa Giêsu là Đấng chăn chiên tốt lành, là Đấng bảo vệ đoàn chiên, là nền tảng, là mẫu mực cho mọi vị chủ chăn tương lai được Ngài trao quyền chăn dắt đoàn chiên.

Cuốn phim về cuộc đời ông Bach Adams, trình bày cho chúng ta thấy một phần nhân cách phi thường, khác thường đến độ bị kẻ khác xét như một người điên. Đó là nhân cách của ông Bach Adams: ông khám phá ra chiều kích nhân bản tương quan giữa người với người trong việc chữa trị bệnh nhân. Bệnh nhân sẽ bình phục mau chóng hơn khi mối tương quan giữa bác sĩ và đương sự được tốt đẹp. Thái độ của ông Bach Adams rất khác biệt với thái độ cứng nhắc, vô tâm, vô tình của bác sĩ tâm thần không màng nghe người bệnh. Thái độ của ông Bach Adams bị thử thách khi người mang ơn những trợ giúp nhân đạo của ông không những không biết ơn mà còn hành động tàn bạo giết chết người yêu của ông. Adams cảm thấy sự hy sinh của mình bị xúc phạm, bị lợi dụng và muốn bỏ cuộc. Tác giả cuốn phim cho chúng ta thấy rằng chỉ khi nào Adams chấp nhận hy sinh, cho đi tất cả, thực sự cho đi tất cả, thì ông mới trung thành được với sứ mạng. Đây có thể nói là một cách sống thí mạng cho kẻ khác, cách sống của vị chủ chăn chiên hy sinh mạng sống mình cho đoàn chiên.

Lòng quảng đại suông không bị thử thách, không quảng đại hy sinh, không phải thí mạng cho kẻ khác thì chưa phải là lòng quảng đại của vị chăn chiên nhân lành. Ngày ơn thiên triệu, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã từng mời gọi các bạn trẻ hãy quảng đại đáp lại lời mời gọi theo Chúa, đây không phải là thứ lòng quảng đại lãng mạn, quá lý tưởng, không được thể hiện ra bên ngoài bằng hành động hy sinh cụ thể. Và do đó sẽ không kiên trung kéo dài lâu, gặp khó khăn sẽ dễ dàng nản lòng. Hy sinh là định luật để được trưởng thành và vững mạnh.

Một ngày kia, Chúa Giêsu đã hiện ra cho thánh Giêrônimô và hỏi: - Này Giêrônimô, hôm nay con có gì để dâng cho Ta không?

Thánh Giêrônimô đáp: - Con dâng cho Chúa tất cả những bộ sách con đã viết và nhất là bộ Kinh Thánh con vừa mới dịch xong.

Chúa Giêsu mỉm cười chấp nhận nhưng chưa hoàn toàn thỏa mãn, Ngài hỏi thêm: - Con còn có gì nữa để dâng cho Ta không?

Thánh Giêrônimô không chút do dự trả lời: - Con dâng cho Chúa tất cả những hy sinh, khổ cực con gặp thường ngày từ trước tới giờ. Con dâng cho Chúa trọn cả cuộc đời tu trì của con đây.

Chúa Giêsu chấp nhận nhưng vẫn chưa mãn nguyện, Ngài lại hỏi lần thứ ba: - Con còn có gì để dâng cho Ta nữa không?

Lần này, thánh Giêrônimô tỏ vẻ phân vân và nhỏ nhẹ thưa cùng Chúa: - Thì con đã dâng cho Chúa tất cả rồi, còn gì tốt đẹp nữa đâu mà con có thể dâng cho Chúa được.

Chúa Giêsu nhìn Giêrônimô với đôi mắt nhân từ, tràn đầy yêu thương và phán: - Giêrônimô, tại sao con không dâng cho Ta những tội lỗi, những tật xấu của con? Con giữ nó làm gì? Ta đã xuống thế, chịu chết trên thập giá là để đền tội lỗi con mà.

Thánh Giêrônimô dâng cho Chúa tất cả, kể cả những tội lỗi của mình.

Câu chuyện này phần nào diễn tả tất cả tâm hồn tràn đầy yêu thương của Chúa đối với mỗi người chúng ta. Ngài biết rõ chúng ta như chủ chăn biết rõ từng con chiên. Ngài đến với mỗi người chúng ta và đặt ra cùng một câu hỏi: "Con có gì dâng cho Ta hôm nay không?", ngoài những gì tốt đẹp nhất mà sức hèn con người có thể thực hiện để dâng cho Chúa, chúng ta còn được Chúa âu yếm mời gọi đừng sợ, hãy dâng cho Chúa cả những tội lỗi của mình. Chúa yêu thương chúng ta, thật khác với mọi lãnh tụ trần gian, chỉ muốn thuộc hạ dâng cho mình điều tốt. Chúa Giêsu, Đấng chăn chiên nhân lành, vì Chúa là Chúa, nên muốn chúng ta dâng cho Ngài những điều tốt lẫn những điều xấu, vì Ngài có đủ quyền năng để biến đổi những điều xấu, thanh tẩy những tội lỗi chúng ta nếu chúng ta muốn.

Hình ảnh vị chủ chăn nhân lành nhắc nhở chúng ta nhớ lại tình thương yêu, bảo vệ và hướng dẫn của Chúa. Hãy dâng cho Chúa tất cả, kể cả những tội lỗi của chúng ta. "Chiên Ta thì nghe tiếng Ta. Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta cho chúng được sống đời đời, chúng sẽ không bao giờ hư mất và không ai có thể cướp được chúng khỏi tay Ta". Chúng ta hãy đến dâng cho Chúa tất cả cuộc sống của mình, tất cả những điều tốt đẹp, kể cả những điều xấu, những tội lỗi để cho ân sủng Chúa thanh tẩy mỗi người chúng ta mỗi ngày được nên tốt đẹp hơn.

 

12. Để khỏi bị diệt vong – Lm Ignatio Trần Ngà

Trong các loài thú thì chiên cừu là con vật hiền lành nhất và cũng yếu đuối nhất. Những loài mãnh thú như sư tử, hổ báo... là những con thú hung tợn, có nanh, có vuốt lại có sức mạnh và sự lanh lẹ phi thường nên có thể dễ dàng quật ngã những loài thú yếu đuối hơn và biến những con thú nầy thành mồi ngon cho chúng.

Có những loài thú khác tuy không mạnh mẽ, hùng dũng bằng sư tử, hổ báo... nhưng ít ra cũng có nanh, có vuốt, có sừng, có quai hàm mạnh mẽ... để săn bắt, vồ xé những con thú khác, hay ít ra cũng để tự bảo vệ mình, như con trâu có sừng để báng; con ngựa, con bò có chân để đá, con dê có đầu cứng như đá để húc, để tự bảo vệ mình khỏi bị địch thủ tấn công.

Chỉ riêng có loài cừu, loài chiên là hiền lành yếu đuối, chẳng có sừng để báng, chẳng có móng vuốt để tấn công, chẳng có răng nanh để cắn xé, chẳng có sức mạnh hay sự lanh lẹ để đối lại địch thù. Đã vậy, khi bị tấn công, nó cũng không có cánh để bay lên ngọn cây cao thoát thân như loài chim, không thể chui xuống hang ẩn trú như loài chuột, cũng chẳng có thể cao chạy xa bay lánh thoát địch thù như loài hươu nai...

Ngoài ra, nó cũng không thể cậy dựa vào những bạn cừu khác, vì những con cừu kia cũng yếu đuối, cũng hiền lành, cũng vô phương tự bảo vệ mình như nó. Cả hàng trăm con cừu không hơn một con chó sói! Thế là nó dành đứng chịu trận cho kẻ thù vồ xé, giết hại, tàn sát... Thật tội nghiệp, thật đáng thương! May ra chỉ có người chăn chiên mới là người duy nhất có thể bảo vệ và cứu nguy cho nó, giúp nó sống còn.

* * *

Xét về một số phương diện, con người chúng ta tuy cao cả nhưng cũng rất yếu đuối, lại phải thường xuyên đương đầu với thù trong giặc ngoài rất độc hại, chẳng khác gì con chiên hiền lành đối mặt với cả bầy ác thú.

Kẻ thù bên trong chúng ta chính là những xu hướng xấu nằm trong huyết mạch mỗi người. Đó là óc kiêu căng, là lòng tham vô đáy, là tính ích kỷ, là những ham muốn xấu xa, những khao khát tội lỗi... vẫn luôn nằm vùng, luôn ẩn trú trong ruột gan, trong tim óc con người và có thể chỗi dậy bất cứ lúc nào để xui khiến, thúc đẩy người ta làm điều xằng bậy, xô đẩy con người vào con đường gian ác tội lỗi. Mấy ai dám bảo rằng mình đủ sức chiến thắng những kẻ nội thù nầy. Napoléon là một vị tướng lừng danh trong lịch sử nhân loại, đã lập nên nhiều chiến công oanh liệt vang dội châu Âu... vẫn phải thú nhận rằng: "chiến thắng cả châu Âu không khó bằng chiến thắng chính bản thân mình".

Còn kẻ thù bên ngoài chúng ta thì không kể xiết. Có vô vàn cạm bẫy rải rác khắp nơi có thể làm cho con người sa đoạ bất cứ lúc nào. Vô số phim ảnh khiêu dâm và bạo lực đang xô đẩy thanh thiếu niên vào con đường sa đoạ. Đếm không xuể sách báo, văn hoá đồi truỵ dưới đủ mọi hình thức... đang huỷ diệt tâm hồn cao đẹp của con người. Các tụ điểm ăn chơi đồi bại mọc lên như nấm khắp mọi nơi. Rượu bia, ma tuý và rất nhiều hình thức kinh doanh xác thịt con người rộ lên khắp chốn... Đó là những chiêu thức rất hiểm độc được tung ra để huỷ diệt phẩm chất con người, nô dịch con người.

Đối mặt với thù trong giặc ngoài rất nguy hại như thế, chúng ta là những con người vốn mang xác thịt hư hèn yếu đuối, khác nào những chiên non... làm sao chống cự nổi?

Trong mặt trận nầy, chúng ta không thể hoàn toàn trông cậy người khác, vì họ cũng yếu đuối như chúng ta, họ cũng là chiên hiền như chúng ta. Cả trăm con chiên cũng không thắng được một con sói. Người duy nhất có thể bảo vệ chiên là người chăn chiên. Còn Đấng duy nhất có thể bảo vệ chúng ta chính là Đấng chăn chiên lành, là Chúa Giêsu.

Hạnh phúc cho chúng ta vì có Chủ Chiên nhân lành bảo vệ.

Qua Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu cam kết bảo vệ chúng ta là chiên của Ngài: "Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi."

Để được sống đời đời, để khỏi bị diệt vong, chúng ta phải tuân theo hai điều kiện do Ngài đưa ra:

Một là vâng nghe Chúa Giêsu: "chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi".

Nghe tiếng Chúa Giêsu tức là để cho lời của Ngài soi dẫn, để khỏi sai đường lạc lối.

Hai là bước theo Chúa Giêsu: "Tôi biết chúng và chúng theo Tôi".

Bước theo Chúa Giêsu là đi theo con đường mà Ngài đã đi, chủ yếu là vâng theo thánh ý Chúa Cha như Ngài đã nêu gương.

Nguyện xin Chúa Giêsu giúp chúng ta ý thức thân phận chiên non yếu đuối của mình để chúng ta đặt trọn vẹn niềm cậy trông nơi Ngài, vâng nghe tiếng Ngài và bước theo vết chân Ngài để khỏi bị diệt vong ở đời nầy và được hưởng sự sống đời đời do Ngài tặng ban.

 

13. Người chết vì yêu! – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Trong thiệp báo tin Maria Cristina Cella Mocellin qua đời không mang màu đen tang chế nhưng được viền màu xanh hy vọng của cây cỏ tươi. Chính giữa nổi bật cánh hoa hồng, đọng những giọt sương mai lóng lánh. Bên trong là di ảnh của Cristina, tươi trẻ, duyên dáng và lộng lẫy trong chiếc áo ngày cưới. Bên dưới bức ảnh là lời nguyện trích từ nhật ký của Cristina lúc còn thiếu nữ: Lạy Cha, xin dâng Cha niềm vui của con như ca khúc chúc tụng Cha, trái tim con như căn nhà tiếp đón Cha và cuộc đời con để Cha thực hiện điều Cha muốn.

Và... cuộc đời Cristina kết thúc vào năm 26 tuổi. Chiếc bướu ung thư ác tính nơi tử cung mắc phải năm 18 tuổi, tưởng đã chữa lành, nào ngờ tái xuất hiện. Nàng đã có hai con một trai một gái. Cristina đang đợi đứa con thứ ba. Khi vị bác sĩ báo hung tin: "Cristina, tôi rất tiếc phải cho bà biết chứng ung thư quái ác tái xuất hiện", Cristina im lặng một giây. Lấy lại bình tĩnh nàng nhìn thẳng vào mắt vị bác sĩ và nói:

- Tôi đang có thai. Tôi đang mang thai, bác sĩ ạ!

Vị bác sĩ hiểu ngay. Ông không dám đề nghị với nàng lối trị liệu hóa học, vì như thế có nghĩa là giết chết bào thai!

Maria Cristina sinh hạ Riccardo vào tháng 8 năm 1994. Ngay sau đó, nàng bắt đầu các phương pháp trị liệu hóa học, nhưng quá trễ, bướu ung thư đã ăn sâu nơi nội tạng. Người mẹ trẻ anh dũng êm ái trút hơi thở cuối cùng ngày 22-10-1995, để lại 3 con thơ.

Đây là một cái chết đẹp. Chết cho con được sống. Chết để gìn giữ một sinh linh bé bỏng đã được Thiên Chúa phú bẩm nơi cung lòng của người mẹ. Chắc chắn mai sau khi lớn lên, đứa bé đã được mẹ chết thay đó, sẽ hết lòng cảm ơn mẹ. Nhờ mẹ đã hy sinh tính mạng mình, mà người con được bước vào cuộc đời.

Có thể nói sự kiện người mẹ trẻ Cristina dám chết cho con được sống, đã hoạ lại hình ảnh rất đẹp của Chúa Giêsu, vị mục tử nhân lành. Người mục tử biết từng con chiên, lo lắng cho từng con chiên, chăm sóc cho từng con chiên, sẵn sàng chết cho đàn chiên. Chính Chúa đã từng nói: "Tôi là mục tử nhân lành. Tôi biết chiên của tôi và chiên tôi biết tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời. Không bao giờ chúng phải diệt vong". Thật là hạnh phúc cho cuộc đời chúng ta, vì Chúa biết từng người chúng ta. Chúa lưu tâm đến từng hoàn cảnh của chúng ta. Chúa còn bao bọc chở che chúng ta bằng biết bao ơn lành hồn xác. Sống dưới sự chăm sóc của Chúa, chúng ta không chỉ hạnh phúc ở đời này mà còn hạnh phúc cả đời sau, miễn là chúng ta biết nghe tiếng Chúa và bước đi trong đường lối của Chúa.

Tình thương của người mục tử không chỉ dừng lại ở việc chăm sóc dưỡng nuôi chúng ta, mà con dám thí mạng sống mình vì chúng ta. Cái chết trên thập tự giá là bằng chứng hùng hồn cho một tình yêu lớn lao đến nỗi dám chết để đổi lại sự sống cho chúng ta. Ngài còn đi đến đỉnh cao của sự dâng hiến trọn vẹn là trở nên lương thực nuôi dưỡng chúng ta. Với tấm bánh đơn sơ nhỏ bé, Chúa muốn hoà tan trong chúng ta để chúng ta được ở lại trong Chúa, và nên một trong Chúa. Qua đó, Chúa cũng muốn mượn lấy bản tính nhân loại của chúng ta, để Ngài lại có thể tiếp tục yêu thương và phục vụ cho đàn chiên được sống ấm no và hạnh phúc.

Thế giới hôm nay rất cần những tấm lòng dám hy sinh cho nhau, dám vì lợi ích của tha nhân mà quên mình phục vụ, mà quảng đại trao ban. Thế giới sẽ cằn cỗi và hoang tàn nếu không còn những con người dám hy sinh đời mình để phục vụ anh em. Nhưng rất mừng, vì cuộc đời vẫn còn đó biết bao tấm lòng luôn quên mình phục vụ một cách quảng đại và vô vị lợi như mẹ Têrêsa thành Calcutta. Cuộc đời vẫn còn đó, những con người biết tôn trọng sự sống của con cái mà quên đi tính mạng mình như người mẹ trẻ Cristina. Cuộc đời vẫn còn đó, những con người đã từ khước niềm vui trong bậc sống vợ chồng, để dâng hiến phục vụ cho tin mừng Nước Trời trong bậc sống linh mục, tu sĩ. Vâng, có lẽ cuộc đời hôm nay vẫn tươi đẹp vì biết bao người cha, người mẹ, chấp nhận một nắng hai sương, lặn lội nơi ruộng vườn và ngược xuôi nơi bến chợ để lo cho từng cuộc đời những người con. Và còn đó biết bao người, tuy không danh phận giữa đời, nhưng sẵn lòng làm bất cứ điều gì, miễn là đem lại niềm vui cho anh em. Và còn rất nhiều những cuộc đời rất âm thầm đang vẽ lại hình ảnh người mục tử nhân lành, khiêm tốn cúi mình băng bó những vết thương đau của đồng loại bằng tình thương và phục vụ một cách quảng đầy hy sinh.

Hôm nay, ngày dành riêng để cầu nguyện cho ơn gọi làm linh mục và tu sĩ, chúng ta hãy xin Chúa ban thêm nhiều vị mục tử tốt lành để chăm sóc đàn chiên của Chúa. Những mục tử biết hoạ lại khuôn mẫu của vị mục tử nhân lành luôn sống hết mình vì đàn chiên, luôn tận tuỵ chăm sóc đàn chiên của Chúa. Chúng ta cũng xin Chúa cho những bậc làm cha, làm mẹ biết giáo dục và hướng dẫn con cái sống tinh thần tin mừng để cống hiến cho Giáo hội những mần giống ơn gọi tốt lành.

Nguyện xin Chúa Giêsu, mục tử nhân lành chúc lành cho hết thảy những ai đang khao khát dâng hiến cuộc đời để phục vụ cho lợi ích tha nhân và Nước Trời. Amen.

 

14. Khao khát sống đời đời – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Là người ai cũng khao khát được sống và sống đời đời. Không ai nghĩ rằng mình sinh ra – chết rồi hết một kiếp người. Con người dù có niềm tin hay không cũng đều khao khát được sống lâu và sống trường sinh.

Nhưng xem ra con người luôn bất lực trước cái chết. Con người phải nhắm mắt xuôi tay chiều theo số phận. Cho dù người có tiền, có quyền thế nhưng họ vẫn không bao giờ thỏa mãn nỗi khao khát sống trường sinh của mình. Nỗi khao khát đó được thể hiện qua nhiều thế hệ con người ra đi tìm một thứ gọi là linh dược trường sinh.

Có lẽ, ai trong chúng ta cũng từng biết đến Tần Thủy Hoàng nước Trung Hoa. Theo sử sách: vào Năm 221 trước công nguyên, Tần Doanh Chính diệt xong lục quốc, thống nhất toàn cõi Trung Hoa, xưng là Tần Thủy Hoàng đế, có ý muốn truyền ngôi đến vạn đời.

Tần Thủy Hoàng tin thần tiên, dùng bọn phương sĩ, muốn tìm thuốc trường sinh đặng sống lâu, vui hưởng hạnh phúc. Bấy giờ có một người nước Tề tên là Từ Phúc tâu rằng ở biển Đông có ba ngọn núi do thần tiên cai quản là Bồng Lai, Phương Trượng và Doanh Châu, ở đấy có thuốc trường sinh bất tử. Thủy Hoàng mừng lắm, bèn cấp nhiều thuyền lớn, một ngàn đồng nam đồng nữ và lương thực tiền bạc dồi dào để Từ Phúc vượt biển tìm thuốc trường sinh.

Nhưng Từ Phúc đi đã lâu mà không thấy về, chẳng rõ đã chết chìm ngoài biển hay không tìm được thuốc nên không dám về. Ông và đoàn tùy tùng đã ra đi mang theo hoài bão khao khát trường sinh của Tần Thủy Hoàng và của con người qua mọi thời đại.

Thực ra, ước muốn trường sinh bất lão không phải là một ước muốn xấu xa. Con người khao khát được sống mãi để yêu, để làm việc, để giúp đỡ người khác, để sáng tạo... Đây là ước muốn thật bình thường của con người. Thế nên, con người qua mọi thời đại đã không ngừng theo đuổi những phương cách khác nhau để thoát khỏi vòng quay "sinh lão bệnh tử". Nhưng từ xưa đến nay, con người mới chỉ kéo dài sự sống thêm vài chục tuổi mà không ngăn được sự chết.

Thực ra, có một Đấng đã chiến thắng thần chết. Một Đấng đã trỗi dạy từ cõi chết. Ngài đã sống từ đời đời và cho đến muôn đời. Ngài chính là Đức Ky-tô, Con Thiên Chúa hằng sống. Ngài đã sinh ra trong thân phận con người. Ngài đã chia sẻ những thăng trầm của đời người. Ngài đã rao giảng về Nước Trời. Một vương quốc hằng sống. Ngài mời gọi con người tham gia vào vương quốc đó trong tư cách con dân của Nước Trời. Chỉ mình Ngài mới có thể làm thoả mãn khao khát sống trường sinh nơi con người mà thôi.

Cuộc sống trần gian là một hành trình tiến về Nước Trời. Hôm nay, Ngài mời gọi con người biết lắng nghe tiếng Người và đi theo Người như con chiên biết nghe tiếng chủ chiên. Khi con người biết nghe tiếng Ngài và bước đi theo Ngài, Ngài sẽ cho họ được tham dự sự sống đời đời với Ngài. Ngài sẽ dẫn con người đến bến bờ hạnh phúc nơi không con khổ đau, oan trái và hận thù, chết chóc. Nơi đó, con người được sống sung mãn trong hạnh phúc với Chúa là Đấng hằng sống.

Tiếng của Ngài luôn mời gọi con người làm điều lành tránh điều dữ. Tiếng của Ngài cũng mời gọi con người sống trong tình bác ái yêu thương. Sự bác ái không chỉ dừng lại ở việc yêu người yêu mình mà còn yêu cả kẻ thù. Tình yêu thương không dừng lại việc không làm tổn thương đến ai mà còn biết giúp đỡ, chia sẻ với nhau trong vui buồn cuộc đời. Có như thế, chúng ta mới được tham dự sống sống đời đời với Chúa.

Hôm nay, ngày dành riêng để cầu nguyện cho ơn gọi làm linh mục và tu sĩ, chúng ta hãy xin Chúa ban thêm nhiều vị mục tử tốt lành để chăm sóc đàn chiên của Chúa. Những mục tử biết hoạ lại khuôn mẫu của vị mục tử nhân lành luôn sống hết mình vì đàn chiên, luôn tận tuỵ chăm sóc đàn chiên của Chúa. Những mục tử biết say mê nói Lời Thiên Chúa để dẫn dắt dân Chúa đi trong chân lý vẹn tuyền. Chúng ta cũng xin Chúa cho những bậc làm cha, làm mẹ biết giáo dục và hướng dẫn con cái sống tinh thần tin mừng để cống hiến cho Giáo hội những mần giống ơn gọi tốt lành.

Nguyện xin Chúa Giêsu, mục tử nhân lành chúc lành cho hết thảy những ai đang khao khát dâng hiến cuộc đời để phục vụ cho lợi ích tha nhân và Nước Trời. Amen.

 

15. Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)

Ai cũng biết điếc là khổ. Người điếc bị người ta coi khinh và còn xem họ như những người chuyên làm phiền người khác. Điều đáng buồn là người ta thường thiện cảm với người mù, người què, nhưng lại thường nổi xung và bực bội với người điếc.

Có một lần tôi đi xức dầu bệnh nhân, sau khi nói chuyện, tôi hỏi bà cụ có muốn xức dầu không? Bà liền nói: con đâu có đau đầu đâu! Hóa ra bà bị điếc tưởng tôi nói bà có đau đầu không?

Điều đáng buồn là người điếc lại cho không biết mình bị điếc nên vẫn vô tư sống.

Có một người đàn ông đi gặp bác sĩ để kể về người vợ của mình. “Tôi cho rằng vợ tôi bị điếc, cô ấy chả nghe thấy tôi nói gì mà toàn khiến tôi phải nhắc lại”.

Người bác sĩ trả lời: “Được rồi, bây giờ anh cứ về nhà. Tối nay đứng cách vợ 6 m và nói một điều gì đó. Nếu bà nhà không trả lời, đứng lại gần 2 m nữa và nhắc lại. Cứ tiếp tục như thế để xem mức độ ngễnh ngãng của bà ấy nặng đến mức nào”.

Người chồng trở về nhà và thực hiện đúng theo chỉ dẫn. Ông đứng cách vợ 6 m khi bà đang thái thịt trong bếp và hỏi: “Cưng à, tối nay mình ăn gì vậy?”. Ông không nghe thấy câu trả lời. Ông đứng gần lại 2 m nữa và hỏi lại. Vẫn không có câu trả lời. Ông đứng gần thêm 2 m. Vẫn chẳng thấy gì. Cuối cùng, ông tiến sát lại sau vợ và hỏi: “Em yêu, tối nay mình ăn gì?”.

Cô vợ bực mình quát: “Đây là lần thứ 4 rồi nhá – thịt bò hầm!”.

Ai cũng biết điếc là khổ. Điếc là cách ly với thế giới bên ngoài. Điếc là khổ mình và phiền toái với người bên cạnh. Thế mà, cuộc đời vẫn còn đó những kẻ giả điếc làm ngơ. Họ cố tình bịt tai để khỏi nghe tiếng đồng loại kể cả tiếng Thiên Chúa. Họ giả điếc để sống theo ý mình. Họ cố tình gạt ra ngoài tiếng nói của lương tâm, của sự thật và chân lý. Họ bất chấp lề luật. Họ bỏ ngoài tai lời khuyên dạy của Thiên Chúa và tha nhân. Con người của kẻ giả điếc là tự tách mình ra khỏi cộng đồng xã hội để sống theo ý riêng.

Hôm nay, Chúa bảo “chiên Ta thì nghe tiếng Ta”. Chúa mời gọi chúng ta là con Chúa hãy sống theo giáo huấn của Chúa. Hãy bước đi theo đường lối của Ngài. Bước đi theo sự dẫn dắt của Ngài để được bảo vệ, chở che. Ngài sẽ bảo vệ chúng ta như mục tử bảo vệ đàn chiên khỏi sự tấn công của sói dữ. Ngài sẽ dẫn chúng ta đến đồng cỏ xanh tươi bên dòng suối mát là ân sủng của Ngài luôn đong đầy trên cuộc đời chúng ta. Bước đi theo Ngài thì sẽ không đói, không khát bao giờ.

Lời mời gọi: “chiên Ta thì nghe tiếng Ta” còn là tiếng mời gọi con người làm điều lành tránh điều dữ. Ngài tha thiết kêu mời con người sống trong tình bác ái yêu thương. Sự bác ái không chỉ dừng lại ở việc yêu người yêu mình mà còn yêu cả kẻ thù. Tình yêu thương không dừng lại việc không làm tổn thương đến ai mà còn biết giúp đỡ, chia sẻ với nhau trong vui buồn cuộc đời.

Hôm nay, ngày dành riêng để cầu nguyện cho ơn gọi làm linh mục và tu sĩ, chúng ta hãy xin cho giới trẻ hôm nay nghe được tiếng Chúa kêu mời giữa biết bao ồn ào của cuộc đời. Xin cho họ không chỉ lắng nghe được tiếng nói của sự thật, của chân lý giữa xã hội đầy lừa đảo bon chen mà còn dấn thân bước đi theo tiếng Chúa kêu mời. Chúng ta cũng xin Chúa cho những bậc làm cha, làm mẹ biết giáo dục và hướng dẫn con cái sống tinh thần tin mừng để cống hiến cho Giáo hội những mần giống ơn gọi tốt lành.

Nguyện xin Chúa Giêsu, mục tử nhân lành chúc lành cho hết thảy những ai đang khao khát dâng hiến cuộc đời để phục vụ cho lợi ích tha nhân và Nước Trời. Amen.

 

16. Một đàn chiên duy nhất

(Suy niệm của Lm. Trịnh Ngọc Danh)

Khi ấy, ở Giêrusalem, người ta đang mừng lễ Cung Hiến Đền Thờ. Bấy giờ là mùa đông. Đưc Giêsu đi đi lại lại trong Đền Thờ, tại hang Salomon. Người Do thái vây quanh Đức Giêsu và nói: “ Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc đến bao giờ? Nếu ông là Đấng Kitô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết”. Chúa Giêsu đáp: “ Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi. Nhưng các ông không tin vì các ông không thuộc đàn chiên của tôi. Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một” ( Ga. 10: 27-30).

Chúa Giêsu tự xưng mình là “cửa cho chiên ra vào”; ai qua cửa ấy mà vào thì được cứu, sẽ gặp được đồng cỏ xanh tươi. Ngài cũng tự xưng mình là Mục Tử Nhân Lành“ hy sinh mạng sống mình vì đàn chiên”; Vị Mục Tử Nhân lành ấy đến thế gian để chiên được sống và sống dồi dào: “ Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một” ( Ga. 10: 27-30).

Ngài biết rõ từng con chiên một. Ngoài việc không để một con chiên nào thuộc đàn chiên của Ngài bị lạc mất, Ngài còn lo kiếm tìm những con chiên chưa thuộc về đàn chiên của mình để đưa chúng về thành một đàn chiên duy nhất: “ Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và chỉ có một đoàn chiên và một mục tử” ( Ga. 10: 16)

Khác với người chăn chiên thuê phó mặc “ sống chết mặc bay” hay ba chân bốn cẳng vội vàng chạy trốn khi thấy sói rừng xuất hiện… người chăn chiên đích thực là một người mục tử nhân hậu, thương mến đàn chiên, tận tình chăm sóc, bảo vệ đàn chiên, thỏa mãn mọi nhu cầu cần thiết, luôn sát cạnh với chúng hằng ngày, và sẵn sàng thí mạng sống mình vì đàn chiên.

Là Mục Tử nhân lành, Chúa Giêsu biết chiên của Ngài. Ngài biết thân phận con người yếu đuối, biết con người phải chịu tình trạng nô lệ tội lỗi và biết con người cần tình thương, cần sự cứu thoát khỏi sự huỷ diệt…Ngài biết chúng ta rõ ràng hơn chúng ta tưởng, vì Ngài là Đấng tạo dựng nên chúng ta.

Thiên Chúa biết rõ những khó khăn vất vả, những yếu đuối vấp ngã, những bệnh tật khổ đau, những ê chề thất vọng của chúng ta… Và Người luôn ở bên chúng ta để an ủi vỗ về, để nuôi dưỡng bổ sức.

Tương quan giữa Thiên Chúa và con người không phải là tương quan chủ- tớ, nhưng là tương quan giữa cha- con, giữa yêu thương và được yêu thương.

Chúa Giêsu Kitô mặc khải cho chúng ta một Thiên Chúa nhân hậu, đầy tình thương, luôn sát cạnh, đồng hành với chúng ta trong cuộc sống. Người luôn quan phòng và yêu thương con cái của mình: “Tôi biết chúng và chúng theo tôi”.

“Tôi biết chúng.” Chuyện đó không thành vấn đề; bởi vì Ngài là Đấng tạo dựng nên chúng ta. Ngài biết rất rõ những tâm tư , nguyện vọng của chúng ta. Vấn đề là chiên biết người chăn của mình như thế nào để nghe tiếng người chăn chiên mà đi theo; đồng thời chính con chiên cũng phải tự biết đến thân phận của mình.

Nghe, thấy giúp con người nhận biết sự việc đúng hay sai. Từ nhận thức qua việc nghe và thấy, đưa đến niềm tin; và từ niềm tin dẫn đến việc chấp nhận đi theo.

Tất cả nhân loại là thuộc đàn chiên của Thiên Chúa; và những chiên thuộc đàn chiên của Thiên Chúa là những con chiên “nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi”.

Có những người không thấy, không nghe, nên họ không biết không tin và không theo thì đã đành; nhưng có những người đã thấy, đã nghe, đã biết nhưng không phải biết bằng con mắt đức tin mà bằng lý luận nhân bản: làm sao một chàng thanh niên, con ông Giuse thợ mộc lại có thể tự xưng mình là Con Thiên Chúa, là Đấng Kitô! Vì thế họ không tin và không đi theo.

Những người Do thái đã có một niềm tin vào một Đấng Tối Cao nào đó, nhưng họ lại không chấp nhận có một Đấng nào đó nhân danh Thiên Chúa đã đến với họ. Họ đã nghe, đã thấy những việc và những lời Chúa Giêsu giảng dạy đúng như lời các ngôn sứ đã loan báo; nhưng họ vẵn bán tín bán nghi; họ không tin: “ Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc đến bao giờ? Nếu ông là Đấng Kitô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết”. Và Chúa Giêsu đã lên án họ:“ Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi. Nhưng các ông không tin vì các ông không thuộc đàn chiên của tôi.”

Hoặc cũng có những con chiên đã nghe, biết, theo, nhưng lại muốn giữ độc quyền cho mình việc hiểu biết, không muốn chia sẽ cho người chưa biết:“ Có nhiều người Do thái và tòng giáo theo các ngài, được các ngài khuyên bảo bền đỗ trong ơn nghĩa Chúa”; nhưng nghe, biết mà không theo hay theo ý riêng mình, hẹp hòi trong nhận thức, ghen tức với người khác, độc quyền tôn giáo: “ Đến ngày Sabbát sau, hầu hết cả thành đều đến nghe lời Thiên Chúa. Các người Do thái thấy đám đông dân chúng thì đâm ghen tương, nói lộng ngôn, chống lại các điều Phaolô giảng dạy”. Phaolô và Barnaba can đảm nói rằng: “ Phải giảng lời Thiên Chúa cho các ngươi trước tiên, nhưng vì các ngươi từ chối lời Thiên Chúa và tự cho mình không xứng đáng sống đời đời, thì đây chúng tôi quay về phía dân ngoại…..

Có những người chỉ nghe, nhưng biết người chăn chiên của mình bằng niềm tin và họ đã đi theo. Đó là những người được Chúa chúc phúc: “ Phúc cho những ai đã không thấy mà tin”.

Khi lãnh nhận Bí Tích Thanh Tẩy, chúng ta đã trở thành con chiên của Thiên Chúa, chúng ta thuộc về một đàn chiên là Giáo Hội như Thánh Phêrô đã noi trong thư thứ 1 ( 1 Pr 2: 25): « Xưa kia, anh em như những con chiên lạc, nhưng giờ đây, anh em đã trở về cùng vị mục tử và Đấng canh giữ linh hồn anh em.» Lắng nghe, thực thi Lời Chúa, tuân giữ những điều Giáo Hội truyền dạy là chúng ta nghe biết tiếng của người chăn chiên, là đi theo sự hướng dẫn của đức tin, đức cậy và đức mến. Vì « Người dẫn tôi qua những con đường đoan chính, vì danh dự của Người. Dù bước đi trong thung lũng tối, tôi không lo mắc nạn, vì Chúa ở cùng tôi. Cây roi và cây gậy của Người, đó là điền an ủi lòng tôi.» ( Tv 22: 3-4)

Điểm tựa và niềm hy vọng cho cuộc sống chúng ta là lời Chúa đã xác quyết: Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một” ( Ga. 10: 27-30)

Sống theo đàn, nghe biết tiếng người chăn chiên, theo sau người chăn chiên, tránh xa tiếng kêu gọi của người lạ là sống trong lòng Giáo Hội, sống theo Tin Mừng, là chết đi cho con người tội lỗi để theo chân người chăn chiên đi vào Cửa Chuồng Chiên là Chúa Giêsu Kitô đã chết và đã sống lại.

Nỗi trăn trở của Vi Mục tử Nhân lành là:“ Tôi còn có những chiên khác không thuộc ràn này. Tôi cũng phải đưa chúng về. Chúng sẽ nghe tiếng tôi. Và chỉ có một đoàn chiên và một mục tử” ( Ga. 10: 16).

Người chăn chiên biết từng con chiên và ngược lại, từng con chiên biết người chăn chiên. Làm sao để biết chủ chăn của mình? Qua Kinh Thánh, nhất là Tin Mừng, chúng ta biết người chăn chiên ấy; và chúng ta sẽ biết rõ người chăn chiên ấy hơn khi chúng ta biết sống gần gủi và thân mật hơn với các chiên khác trong cùng đàn chiên.

“Tôi là Gioan đã xem thấy một đám đông không thể đếm được, họ thuộc mọi nòi giống, dòng họ, dân tộc và tiếng nói, đứng trước ngai vàng và trước Con Chiên, họ mặc áo trắng dài, tay cầm là vạn tuế, Họ là những người từ đau khổ lớn lao mà đến, họ giặt áo và tẩy nó trắng trong máu Con Chiên. Vì thế, họ ở trước ngai vàng Thiên Chúa, và ngày đêm phụng sự Người trong đền thánh Chúa, Đấng ngự trên ngai vàng đặt giữa họ. Họ sẽ không còn đói khát; mặt trời và nóng bức sẽ không làm khổ họ, vì Con Chiên đứng trước ngai vàng sẽ thống trị họ, sẽ dẫn họ đến nguồn nước ban sự sống, và Thiên Chúa sẽ lau hết mọi giọt lệ nơi mắt họ” ( Kh. 7:9,14-17)

Viễn cảnh mà thánh Gioan đã chứng kiến sẽ được thực hiện khi “ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử”. Tất cả nên một!

Tin tưởng, phó thác vào tình thương của Chúa khiến chúng ta an lòng.

 

17. Mục tử nhân lành

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)

Chúa nhật thứ IV Phục Sinh theo truyền thống được gọi là Chúa nhật Chúa Chiên Lành vì Tin Mừng Chúa nhật này mời gọi chúng ta suy nghĩ đặc biệt về hình ảnh của Vị Mục Tử Tối Cao đã hy sinh Mạng Sống Mình vì đoàn chiên. Đức Giêsu muốn không chỉ có các mục tử tiếp bước theo Ngài, mà ngay cả những người nam nữ dâng mình cho Chúa trong đời thánh hiến, đến lượt mình, cũng xả thân mình để bảo vệ đàn chiên, đưa các con chiên lạc trở vể. Ngài mong ước các linh mục với Ơn Ngài trợ giúp sẽ hoàn thành trách nhiệm dẫn dắt đoàn chiên Ngài giao cho đến đồng cỏ Nước Trời. Chúa nhật Chúa Chiên Lành cũng là một Chúa nhật đặc biệt đối với các mục tử là những linh mục đặt mình vào vị trí của Đức Giêsu Mục Tử nhân lành duy nhất. Chúng ta hãy cầu nguyện cho các linh mục thân yêu: nâng đỡ, cám ơn và khuyến khích các ngài! Chúng ta cũng cầu nguyện cho Giáo hội Việt Nam có thêm nhiều linh mục lành thánh. Ý chỉ này cũng thật khẩn thiết cho Giáo hội hoàn vũ. Lời ca nhập lễ: Tình thương Chúa chan hòa mặt đất, Lời Chúa sáng tạo chín tầng trời. Allêluia.

* Bài đọc Phụng vụ năm A

- Tđcv 2, 14; 36-41: Phêrô kêu gọi dân Israel ăn năn sám hối

- Tv 23, 1: Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì

- 1 Pr 2, 20-25: Đức Kitô là Đấng canh giữ linh hồn chúng ta

- Ga 10, 1-10: Đức Giêsu là Mục Tử Nhân Lành và là cửa chuồng chiên

* Bài đọc Phụng vụ năm B

- Tđcv 4, 8-12: Ngoài Đức Kitô, không có Ơn Cứu Độ

- Tv 118, 1: Phiến đá bị thợ xây loại bỏ đã biến nên tảng đá góc tường

- 1 Ga 3, 1-2: Trong Tình Yêu của Người, Người làm cho chúng ta trở nên nghĩa tử của Người

- Ga 10, 11-18: Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên

* Bài đọc Phụng vụ năm C

- Tđcv 13, 14; 43-52: Tin Mừng được loan báo cho dân ngoại

- Tv 100, 1: Ngài dẫn chúng ta đi trên đường ngay nẻo chính

- Kh 7, 9;14-17: Niềm vui muôn đời dành cho những kẻ được cứu chuộc

- Ga 10, 27-30: Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên

Cả một chương dài (Ga 10, 1-40) thánh sử Gioan trình bầy Đức Giêsu là Con Thiên Chúa và là Vị Mục Tử Nhân Lành. Phụng vụ năm- C chỉ lấy có 4 câu (Ga 10, 27-30), cũng đủ làm nổi bật Đức Giêsu là Mục Tử Tốt Lành, Ngài là Con Thiên Chúa, và cũng chính là Thiên Chúa(c.30), Ngài đến để thí mạng sống mình vì đàn chiền, cho chiên được sống dồi dào (c.28), qui tụ tất cả về một đàn chiên duy nhất, Ngài cũng mời gọi chúng ta bắt chước Ngài.

Đức Giêsu là Mục Tử Tốt Lành, Ngài là Con Thiên Chúa, và cũng chính là Thiên Chúa (c.30).

Ngài tốt lành như Ngài nói: "Ta đến để cho chúng được sống và được sống dồi dào" (c. 10). Chúa Giêsu Kitô phân biệt hai loại mục tử, một loại người chăn chiên tốt là người can đảm lấy thân mình đương đầu chống lại sói dữ để bảo vệ đàn chiên. Đây là điểm khác biệt với lính đánh thuê. Kẻ chăn thuê chỉ quan tâm chút ít cho con chiên của mình, vì lợi ích riêng cá nhân mà quên đi đàn chiên. Loại mục tử này gây hại cho đàn chiên, vì họ tìm cách ăn cắp các con chiên để làm thịt, không đánh mất chính mình, không từ chối kẻ trộm và không quan tâm đến đàn chiên được giao, vì họ là người chăn thuê. Khi người Do Thái tìm cách giết Đức Giêsu, Ngài đã không ngừng rao giảng, không bỏ rơi các môn đệ, nhưng Ngài bảo vệ họ cách tuyệt đối, chịu chết cho họ. Đây là lý do tại sao Ngài nói: ". Ta là mục tử tốt lành, Ta thí mạng sống Ta vì đàn chiên." Chúa Giêsu lặp đi lặp lại câu trên để chứng tỏ mình không phải là một kẻ mạo danh. Ngài phán:"Chiên Tôi thì nghe tiếng Tôi, Tôi biết chúng và chúng theo Tôi ". Những gì Đức Giêsu nói, "Tôi biết chiên của Tôi và chiên của Tôi biết Tôi." Các tông đồ cũng nói như vậy: "Thiên Chúa đã không từ bỏ dân của Ngài mà Ngài biết." (...) Môi-se nói: "Chúa biết những người của mình." (Ds 15, 5). Đức Giêsu biết từng con chiên một: "Như Cha biết Ta và Ta biết Cha " (c. 15).

Có những kiến thức, kỹ năng, Ngài và con chiên không bằng nhau. Cũng có thể có kiến thức bình đẳng chăng? Bởi vì Ngài nói: "Như Cha biết Ta, Ta biết Cha" (c. 15). Thực tế, Chúa Cứu Thế đã muốn chứng minh rằng: "Như Cha biết Ta và Ta biết Cha". Đó là lý do tại sao Đức Giêsu nói: "Không ai biết Con trừ ra Cha, và những người Con muốn mạc khải cho".

"Tôi nhận được lệnh này từ Cha của Tôi." Chúng ta tự hỏi: Lệnh gì? Lệnh chết cho thế giới. "Đây là lý do tại sao Cha yêu Tôi", điều này cho thấy một ý chí tự do, loại bỏ bất kỳ dấu hiệu của sự đối kháng, ngay cả khi Ngài nói rằng, Ngài đã nhận được lệnh của Cha Ngài, nghĩa là không có gì khác Ngài làm đẹp lòng Chúa Cha hơn. Nên khi người Do Thái thách thức: "Nó đã cứu những ai khác, chứ vô phương cứu lấy mình! Nó là Vua Isarel! Bây giờ hãy xuống khỏi thập giá, và ta sẽ tin vào nó! (Mt 27, 42). Nhưng chính vì Ngài là Con Thiên Chúa, nên Ngài đã không xuống.

Trở lại câu: "Tôi đã nhận được lệnh này từ Cha Tôi", có người nghĩ rằng công việc này không phải là tự nguyện, và rằng Chúa Giêsu đã bị buộc phải chết. Đức Giêsu nói trước đó: " Không ai cất mạng sống Ta được; nhưng chính Ta tự mình thí mạng sống Ta; Ta có quyền thí mạng sống Ta. Và cũng có quyền lấy lại; đó là lệnh truyền Ta đã lĩnh nơi Cha Ta". (c.18). Đức Giêsu chính là Thiên Chúa.

Ngài đến để thí mạng sống mình vì đàn chiên, cho chiên được sống dồi dào (c.28), Trước đó, Chúa Giêsu cũng nói: "Ta là cửa, ai qua Ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi, người ấy sẽ ra vào và tìm gặp được đồng cỏ " (Ga 10, 9). Người ấy sẽ vào từ đức tin và ra qua đức tin, và người ấy sẽ gặp được đồng cỏ xanh tươi dẫn đưa đến dự tiệc vui muôn đời.

Đàn chiên của người chăn hiền lành nên tìm được một đồng cỏ xanh tươi, vì tất cả đàn chiên đi theo người chăn với lòng duy nhất là được dẫn đến ăn cỏ trong đồng cỏ xanh tươi. Còn người chăn chiên với niềm vui thiên đàng sâu thẳm là gì, há chẳng phải là đến được đồng cỏ xanh không bao giờ tàn úa đó hay sao? Người chăn chiên chính là Thiên Chúa, Ngài luôn hiện diện: người ta chiêm ngắm Ngài, khiến tâm hồn thỏa thuê như khách vừa dự tiệc...

Vậy, chúng ta hãy tìm đến vị mục tử này, chúng ta sẽ thấy niềm vui thiên quốc được cử hành ở trên trời. Niềm vui ấy mời gọi ta... Hãy thức tỉnh tâm hồn! Ước gì đức tin của chúng ta sưởi ấm điều chúng ta tin, và ước muốn của chúng ta hun đúc những điều cao thượng. Yêu chính là lên đường. Không để lại bất cứ điều gì làm giảm đi niềm vui nội tâm. Đừng để mình rơi vào những quyến rũ bởi sự thành công tâng bốc. Ngu ngốc nhất là người du lịch, khi nhìn thấy những cảnh quan đẹp, quên ngay mục đích của chuyến đi của mình.

Ngài qui tụ tất cả về một đàn chiên duy nhất

Đây là lý do tại sao Đấng Cứu Thế đến nói: "Ta còn những chiên khác nữa, không thuộc đàn này; các con chiên ấy, Ta cũng cần phải chăn dắt, và chúng sẽ nghe tiếng Ta; và sẽ thành một đàn chiên, một chủ chiên. (16) ". "Cũng phải" Chúa Giêsu Kitô sử dụng thuật ngữ này, không để đánh dấu một điều cần thiết, nhưng để chứng minh rằng điều Ngài nói sẽ xảy đến. Ngài được sai đến trước hết với nhà Israle. Nên theo lời Thánh Phaolô: "Cắt bì chẳng là gì cả, mà không cắt bì cũng chẳng là gì cả, (có là gì ấy là) giữ các lệnh truyền của Thiên Chúa. " (I Cor VII., 19.) "Và Tôi cũng phải mang về đàn." Chúa Giêsu Kitô muốn nói rằng, tất cả Do thái hay Hy lạp, nô lệ hay tự do trộn lẫn với nhau. Sau đó Ngài tuyên bố họ là tất cả đều thống nhất, "Và sẽ thành một đàn chiên, một chủ chiên". Thánh Phaolô cũng nói: "ngõ hầu trong Ngài, Ngài tạo dựng hai loại người ấy nên một người mới; đem lại bình an" (Eph. II, 15.)

Hãy theo gương Chúa Kitô Mục Tử

Hướng đến ngày thế giới cầu cho ơn kêu gọi. Đức Nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI viết rằng: "Ngày nay vẫn vậy, sống trong cộng đồng các môn đệ là Giáo Hội, Chúa Giêsu Kitô kêu gọi đi theo Người". Ngài cũng đặc biệt mời giới trẻ "hãy trau dồi nét hấp dẫn các giá trị, các mục tiêu nâng cao, các chọn lựa triệt để, để có thể phục vụ tha nhân theo chân Chúa Giêsu". Chúa Giêsu không ngừng lặp đi lặp lại "Hãy đến! Hãy theo ta". Theo Chúa Giêsu "có nghĩa là nhấn chìm ý muốn của chính mình vào thánh ý Chúa Giêsu, dành ưu tiên cho thánh ý Người và đặt Chúa Giêsu ở vị trí đầu so với tất cả những gì làm nên cuộc sống chúng ta: gia đình, công việc, những lợi ích ca nhân và bản thân".

Xin cho giới trẻ hôm nay đang ở giữa biết bao những gợi ý nông cạn và phù phiếm, biết chuyên tâm trau dồi nét hấp dẫn đối với các giá trị, các mục tiêu cao thượng,những chọn lựa triệt để, hầu phục vụ tha nhân theo chân Chúa Giêsu. Đáp trả quảng đại và mau lẹ tiếng Chúa Kitô kêu gọi đi theo Người sát sao hơn nữa, đặc biệt với các thế hệ mới.

 

18. Lắng nghe tiếng Chúa - Anmai

Mở lại sách Samuel chúng ta bắt gặp nói đến việc Chúa gọi Samuel đi làm ngôn sứ cho Chúa. Khi nhận ra tiếng Chúa, Samuel đã mau mắn đáp lại: “Lạy Chúa xin hãy nói, con nghe đây!” (Sm 3, 3-10; 19).

Trải qua dòng chảy lịch sử cứu độ, Thiên Chúa thường gọi một số người để làm các công việc đặc biệt Chúa trao phó. Trong Cựu Ước, Chúa gọi Abraham, Môsê, Davit, các tiên tri v.v… Trong Tân Ước, Chúa Giêsu đã gọi 12 tông đồ. Đó là những ơn gọi đặc biệt, và việc Chúa gọi và chọn ai cũng là một việc nhiệm mầu của Chúa. Chúa gọi và chọn người Chúa muốn. Tuy nhiên, Chúa vẫn tôn trọng tự do của mỗi người; tùy theo mỗi người có quảng đại đáp lại tiếng Chúa gọi hay không (Mt 19,16…), Trong Gioan 1, 35-42 nói đến việc Chúa gọi hai anh em ông Anrê và Phêrô. Hai ông đã lắng nghe tiếng Chúa và bước theo Ngài.

Các thánh sử của Phúc Âm Nhất Lãm đều kể lại việc Chúa Giêsu kêu gọi thánh Matthêu xảy ra ngay sau khi Chúa chữa người bất toại tại Capharnaum. Khoảng một ngày sau phép lạ ấy, Chúa Giêsu đi dọc theo bờ biển, có đám đông dân chúng đi theo Người. Chúa đến đó từ một thành phố cảng nhỏ nằm giáp miền đất Perea, trên bờ bên kia sông Giođan. Trên đường, Chúa đi ngang qua bàn thu thuế của Matthêu.

Matthêu khi ấy đang làm việc trong ngành thuế vụ của vua Hêrôđê. Mặc dù không phải là một quan chức chính thức, nhưng ngài đã mua quyền được thu thuế. Chức vụ thu thuế không được người Do Thái kính nể, thậm chí còn bị nhiều người khinh bỉ. Tuy nhiên, đó lại là một chức vụ rất hấp dẫn, vì đem lại của cải giàu sang. Người thu thuế dường như có địa vị cao trong xã hội, vì khi Matthêu khoản đãi Chúa Giêsu trong nhà, có rất đông người thu thuế và những người khác đến đồng bàn.

Chúa kêu gọi Matthêu làm môn đệ khi Người đi ngang qua bàn thu thuế của ông. Matthêu đã chỗi dậy và đi theo Người. Sự đáp ứng của Matthêu rất mau mắn và quảng đại. Có lẽ ngài đã nhiều lần được gặp Thầy Chí Thánh, và chỉ chờ đợi cơ hội quan trọng này mà thôi. Ngài đã không chần chừ trong việc từ bỏ mọi sự để theo Chúa Giêsu. Chỉ một mình Thiên Chúa biết tại sao Người lại tuyển chọn Matthêu, và cũng chỉ một mình thánh nhân mới có thể cho chúng ta biết ngài đã nhận thấy điểm gì nơi Chúa Giêsu đến nỗi đã lập tức rời bàn thu thuế để đi theo Người. Thánh Gioan Kim Khẩu nói, Chúng ta thấy vì sự vâng phục mau mắn và trọn vẹn mà Matthêu đã tức khắc từ bỏ tất cả tài sản thế gian để đi theo Chúa khi được kêu mời đúng lúc.

Ngày hôm nay, một lần nữa chúng ta được Chúa Giêsu mời gọi hãy nghe tiếng Chúa và đi theo tiếng Chúa gọi: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi. Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Tôi và Chúa Cha là một".

Chúng ta soi chiếu trang Tin Mừng hôm nay vào mạch văn trong chương 10 của Thánh Sử Gioan: Chúa Giêsu mạc khải chính mình là “mục tử nhân lành“ cho đàn chiên cũng như Đức Giavê xưa đối với Dân Ítrael. Chúa Giêsu lúc đó đang “đi đi lại lại“ trong Đền Thờ ở Giêrusalem, tại hành lang Salomôn, vào dịp lễ Cung Hiến Đền Thờ. Người Do Thái vây quanh Chúa Giêsu và chất vấn Ngài: “Ông còn để lòng trí chúng tôi phải thắc mắc cho đến bao giờ? Nếu Ông là Đấng Kitô, thì xin nói công khai cho chúng tôi biết“. (Ga 10, 24).

Đáp lại, Chúa Giêsu trả lời: “Tôi đã nói với các ông rồi mà các ông không tin. Những việc tôi làm nhân danh Cha tôi, những việc đó làm chứng cho tôi. Nhưng các ông không tin, vì các ông không thuộc về đoàn chiên của tôi“ (Ga 10, 25-26). Quả thực, những người Do Thái là Dân Chúa đã tuyển chọn, chẳng những đã không tin, mà họ còn “lấy đá ném Ngài“ vì cho rằng Chúa Giêsu nói phạm thượng: “Ông là người phàm mà lại tự cho mình là Thiên Chúa“ (Ga 10, 33).

Như vậy, tâm tình cốt lõi của mạc khải của trang Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay, chính là việc Chúa Giêsu muốn mạc khải Chúa Cha và tuyên xưng mình là Con Thiên Chúa. Chúa Cha là Đấng trao ban đoàn chiên cho Chúa Con. Hình ảnh mục tử hướng dẫn đoàn chiên bắt rễ sâu trong kinh nghiệm “dân du mục Aram“ trong Cự#u Ước: mục tử vừa là thủ lãnh vừa là bạn đồng hành của đoàn chiên. Đức Chúa Giavê bảo vệ đoàn chiên với quyền phép và tình thương để không ai có thể cướp chiên ra khỏi tay Ngài. Đó là lịch sử cứu độ nhân loại của Thiên Chúa.

Chúa Giêsu cũng cho thấy mối liên hệ vô cùng mật thiết giữa Ngài và Chúa Cha: “Tôi và Chúa Cha là một“, hiệp nhất trong bản tính, trong uy quyền, trong hành động. Cũng vì lời mạc khải này mà Chúa Giêsu không những bị dân Do Thái ném đá, cho là “phạm thượng“, mà sau này còn đóng đinh Ngài trên thập giá.

Dần dần, qua mạc khải của Chúa Giêsu, chúng ta nhận biết Chúa Cha chính là nguồn mạch sự sống, nguồn mạch tình yêu... và Đức Kitô chính là Đấng Messia. Đức Chúa Giavê trao phó cho các tôi tớ ngài là các Tổ Phụ, các Quan Án, các Ngôn Sứ, các Vua Chúa... thay quyền Chúa chăn dắt Dân Chúa. Nhưng những chủ chăn Ítrael đã tỏ ra bất tài, bất trung với sứ mệnh của họ, bỏ bê đàn chiên, chỉ lo danh lợi dục cho mình, phản loạn không tuân giữ Giao Ước với Thiên Chúa. Nên, vào thời của Tân Ước, Đức Chúa Giavê trao phó đoàn chiên cho Đấng Messia, Đấng Cứu Thế muôn dân trông đợi.

Nhiều lần trong Tin Mừng, Đức Kitô đã mạc khải Ngài là vị Chủ Chăn nhân lành, Đấng Trung Gian độc nhất, là “cửa cho chiên ra vào“ (Ga 10, 7) và “gặp được đồng cỏ“ (Ga 10, 9). Đức Kitô trao ban chính mình cho đoàn chiên với tư cách là “Chúa chiên nhân lành“: Ngài không những biết từng con chiên, dẫn chiên đi vào “đồng cỏ xanh tươi“, luôn đi đầu đàn, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ đoàn chiên khỏi nanh vuốt sói dữ, mà còn hy sinh mạng sống mình cho từng con chiên (Ga 10, 15. 17). Một cuộc sống mới và một mối liên hệ mới được vĩnh viễn thiết lập: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi“.

Chúa Giêsu Kitô đến bên từng người chúng ta – cho dù chúng ta đang sống trong độ tuổi hoặc hoàn cảnh nào – và ánh nhìn của Chúa tiếp xúc với ánh mắt chúng ta một cách cá biệt. Người mời gọi chúng ta bước theo. Trong hầu hết các trường hợp, Chúa để chúng ta lại giữa trần gian, công việc, và gia đình. Hãy suy nghĩ về điều Chúa Thánh Thần đã phán, và hãy để bạn biết sợ hãi và tri ân: ‘Elegit nos ante mundi constitutionem’ – Người đã tuyển chọn chúng ta trước khi tạo dựng thế gian, ‘ut essemus sancta, in conspectu eius!’ – để chúng ta nên thánh thiện trước mặt Người.

Thiên Chúa đã nói với chúng ta nhiều lần và bằng nhiều cách thế khác nhau. Ngài nói với chúng ta qua Kinh Thánh, Ngài cũng nói với chúng ta qua Giáo Hội, những lời giảng dạy của Đức Thánh Cha, các giám mục và linh mục, những người có bổn phận săn sóc và dạy dỗ chúng ta. Thiên Chúa cũng nói với chúng ta qua tha nhân và qua những dấu chỉ của thời đại cùng những sự vật và hiện tượng đang diễn tiến trong dòng lịch sử. Và Thiên Chúa cũng thực sự nói với chúng ta khi chúng ta cầu nguyện. Sống trong tương quan thân tình với Ngài, đó là lý do chúng ta phải chuyên cần cầu nguyện trong hoàn cảnh, mọi nơi và mọi lúc để học biết được điều Thiên Chúa đã nói với mỗi người chúng ta

Chuyện quan trọng là chúng ta có lắng nghe tiếng Chúa gọi hay không mà thôi.

Lắng nghe trước hết là đón nhận được thánh ý Thiên Chúa, rồi thể hiện ra bằng cuộc sống thường nhật của chúng ta. Thánh ý Thiên Chúa khi đó sẽ điều khiển tư tưởng, ý nghĩ, tâm hồn, lời nói và hành động của chúng ta để chúng ta trở thành những người bạn tốt của anh chị em.

Lắng nghe tiếng Chúa là yêu thương. Tất cả những ai lắng nghe Chúa Giêsu đều là những người đã được đào luyện trong tình yêu. Lắng nghe là yêu thương. Tuy cũng đã cật vấn Chúa Giêsu khi Ngài thân thưa với Chúa Cha: "Làm sao con có thể cho đi chính mình con một cách quảng đại trong tình yêu nhờ đó ý Cha được hoàn trọn trong cuộc sống của con?"

Như thế, lắng nghe cũng là một dạng thức của tình yêu bác ái, tình yêu của Thiên Chúa. Tình yêu đó cũng chính là sự thánh thiện của Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã dạy chúng ta yêu. Yêu Chúa trọn vẹn và yêu như Chúa yêu, để trở nên món quà đáng yêu đối với Chúa và với mọi người. Thiên Chúa trao tặng cho chúng ta một lý tưởng cao đẹp như thế nên tất cả những gì chúng ta phải làm là gì nếu không phải là tin tưởng vào Ngài, lắng nghe Ngài và tình yêu Ngài. Chúng ta cũng chẳng còn sợ điều chi bởi vì Chúa luôn yêu thương chúng ta. Chúng ta tin rằng chỉ có một con đường dẫn đến tình yêu đích thực đối với Thiên Chúa và với tạo vật là lắng nghe Thiên Chúa và mến yêu Ngài. Mong rằng lắng nghe tiếng Chúa là khát vọng nuôi dưỡng chúng ta trong cuộc lữ hành trần thế.

 

19. Người Mục Tử – Lm. Giuse Hoàng Kim Toan

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’ – Radio Veritas Asia)

Người chăn dắt Israel, là một thuật ngữ quen dùng trong văn hoá người Do Thái, biểu tượng là người gìn giữ hoà bình, người của cõi thiêng mà đến.

Trong ngôn ngữ biểu tượng người chăn dắt là người đã từng trải bằng những kinh nghiệm của mình, người trực giác nhìn thấy phía trước, dự đoán được tương lai gần những điều sắp đến. Người chăn dẫn cũng là người biết canh chừng, theo chức năng đó người chăn dắt luôn trau dồi thêm những tình huống cảnh giác. Người chăn dắt có nhiệm vụ bảo đảm an toàn cho đoàn chiên của mình, anh ta là người biết nhìn trời, dự đoán qua trăng sao, tai lắng nghe và phân biệt được tiếng thú dữ và tiếng chiên lạc đàn thuộc bầy của minh. Chính anh ta là người không có chỗ dừng chân, không có một nơi gối đầu định cư, số phận anh ta tuỳ thuộc vào số phận của đoàn chiên. Đối với đoàn chiên, anh ta là đôi mắt là sự am hiểu thay cho đàn chiên, biết từng con chiên và bảo vệ từng con chiên trong đàn.

Sứ vụ của người chăn chiên đòi hỏi phải là người khôn ngoan, hiền hậu, có trái tim nhân từ thương cảm. Con chiên nào đau bệnh, anh chữa trị, con nào lạc lối, anh tìm đưa về, con nào bước đi yếu ớt, anh cõng trên vai. Những con chiên khoẻ mạnh anh ta vỗ về... Từ những hình ảnh nhân hậu đó, người chăn chiên còn là biểu tượng của sự bình an cho đàn chiên. Người ta muốn bắt chiên, trước hết phải giết hại người chủ chiên.

Theo truyền thống Do Thái Cain đại diện cho người theo văn hoá du mục, Abel đại diện cho nền văn hoá định cư. Người định cư rất quý mến người du mục, và thường ân cần tiếp đón họ. Theo khía cạnh nhìn của người định cư, người chăn chiên là người không thuộc về đất, người chăn chiên có một giá trị thiêng liêng và cao quý.

Nền văn minh Assyrie và Babylone, biểu tượng người chăn chiên gắn liền với ý nghĩa vũ trụ. Danh hiệu người chăn chiên được gán cho thần mặt trăng Tammuz, là người chăn dắt các tinh tú, vị thần của thực vật, chết đi và sống lại. Theo chu kỳ mặt trăng tuần tự sinh ra và rồi mất đi, cũng một chu kỳ liên tiếp được làm đi lập lại mỗi khi chiều về, buổi tối ập đến, người chăn cừu lại lùa đàn chiên vào nơi gìn giữ và sáng mai lại thả ra. Người chăn dắt trong đêm ngủ mê của đoàn chiên vẫn là người lắng nghe, người cầu nguyện cho sự an toàn của đàn chiên. Với hình ảnh đó, người chăn chiên là người trung gian giữa Đấng Tối Cao và thọ tạo.

Người mục tử hôm nay là những nhà lãnh đạo, những nhà doanh nghiệp, những vị lãnh đạo công ty, xí nghiệp. Với đôi mắt tinh tường nhìn về phía trước, dự báo được những gì trong tương lai, chuẩn bị cho những con người dưới quyền đủ khả năng chống đỡ vượt qua thử thách. Những nhà lãnh đạo biết lo cho những người thuộc quyền cũng như cho dân được ấm no hạnh phúc. Bình an của đàn chiên là niềm vui cho người mục tử. Nhà lãnh đạo không những chỉ sáng suốt mà còn là người chăm lo hạnh phúc cho đàn chiên, là người quy tụ chứ không phải để gây chia rẽ chống đối, là người vì đàn chiên của mình mà hy sinh hạnh phúc cá nhân chứ không phải là người chỉ biết xen lông, giết thịt những con chiên béo, thu lợi nhuận từ đàn chiên để làm giàu cho cá nhân người mục tử. Người mục tử có những đức tính cần thiết và cần có cả đời sống cầu nguyện, vì người mục tử là người nối trời với đất, người lãnh trách nhiệm tinh thần cho đàn chiên của mình, vừa thăng hoa đời sống bằng vật chất vừa làm no thoả đời sống tinh thần cho đoàn chiên, bảo đảm cho đoàn chiên một tương lai chắc chắn. Người mục tử nếu là người không tín ngưỡng, không niềm tin tôn giáo là nhưng nhà lãnh đạo thiếu sót trong bổn phận của mình và có thể làm thiệt hại cho đoàn chiên.

Người mục tử cũng là các gia trưởng trong gia đình, người quy tụ đoàn con của mình chứ không là người gây chia rẽ. Người đảm bảo cho mọi thành viên trong gia đình có những nhu cầu thiết yếu để ăn học và trưởng thành về các đức tính cũng như niềm tin. Nhiệm vụ người gia trưởng xem ra khá nặng nề, chính vì vậy, họ cũng cần có đời sống cấu nguyện để được thêm sức mạnh gánh vác việc đời và gia đình. Các thành viên trong gia đình là những gì Thiên Chúa trao cho để thi hành sứ mạng hướng dẫn của người mục tử.

Người mục tử là những người cai quản các cộng đoàn cần gắn bó với vị mục tử nhân lành là Chúa Giêsu, bởi vì sứ vụ lãnh nhận từ nơi Chúa Giêsu. Cộng đoàn được trao phó để người mục tử hướng cộng đoàn đó thực thi ý định yêu thương của Thiên Chúa. Người mục tử này đóng vai trò quan trọng để xây dựng cộng đoàn mình lãnh nhận được hiệp nhất, nơi chia sẻ tình thương, sống trong bác ái và làm chứng về Tin Mừng Phục Sinh.

Xin ban cho chúng con những người mục tử như Ý Chúa.

 

20. Hạnh phúc là đây

"Tôi ban cho chúng sự sống đời đời, không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp chúng khỏi tay tôi".

Một em bé chín tuổi nhận định về bà ngoại của mình như sau:

Bà ngoại là bà cụ không có em bé nên bà thích chăm sóc những em bé nhà hàng xóm. Bà ngoại già nên không chơi "hết ga" được, bà chỉ loanh quanh con ngựa gỗ, nhưng bà có nhiều xu lẽ lắm.

Bà ngoại thường béo tròn, nhưng bà vẫn cột được giây giày cho trẻ con. Bà chẳng khôn lanh mấy...chỉ biết trả lời những câu hỏi như: Tại sao chó ghét mèo, hoặc tại sao khi Chúa đến thì không được làm đám cưới nữa. Bà ngoại nói rất sõi, không bị ngọng. Lúc đọc truyện cho tụi cháu, bà không bỏ chữ, và không đọc một câu truyện tới hai lần. Ai cũng nên cố gắng có một bà ngoại, nhất là những người không có TV. Bởi vì bà ngoại là người lớn duy nhất dành hết thời giờ cho con nít.

Bà ngoại... tuyệt vời như vậy thôi chứ con đòi gì nữa?

Chúa nhật IV phục sinh là Chúa nhật dành để cầu nguyện cho ơn thiên triệu linh mục và tu sĩ. Phụng vụ lời Chúa trong ngày này thường trình bày một Đức Giêsu như mục tử tận tình chăm sóc đoàn chiên của mình. Ngài tìm cho chiên những đồng có tốt, những suối nước trong. Ngài bão vệ chiên khỏi những nguy hiểm của kẻ thù. Lũ chiên con Ngài ẩm trong lòng. Bầy chiên mẹ thì tận tình chăn dắt. Con nào bệnh thì ngài băng bó. Con nào lạc thì tìm kiếm đưa về. Chiên của Ngài thì an toàn và không phải lo lắng vì đã có Ngài nâng đỡ và chăm lo mọi sự.

Hình ảnh con chiên được chăm sóc nơi trần gian cho chúng ta một hy cọng về một đoàn chiên được hạnh phúc vĩnh cửu trên thiên đàng với chủ chăn của mình. Sách khải huyền đã minh xác nhận điều ấy. "Họ sẽ không còn phải đói, phải khát, không bị ánh nắng mặt trời thiêu đốt và khí nóng hành hạ nữa. Vì con Chiên ngự giữa ngai sẽ chăn dắt và dẫn đưa họ tới nguồn nước trường sinh" (Kh 7,16 -17). Đó là hình ảnh của một đoàn người đã chiến thắng, đã vượt qua đau khổ, đã giặt áo mình trong máu con chiên.

Đức Giêsu không chỉ như mục tử trần gian chăm sóc phần thể xác nhưng còn là mộ Đức Chúa coi sóc cả phần linh hồn. Một Chủ Chăn hoàn hảo đến mức khi chiên của mình không may rơi vào chỗ khó khăn. Ngài đã ra tay cứu chữa và con hơn thế nữa Ngài đã hiến thân mình làm giá đền thay cho lỗi lầm của đoàn chiên, là chúng ta. Đức Giêsu còn là Con Chiên. Chính Ngài đã trở nên của ăn cho chính đàn chiên của mình. Ngài đã chết để chúng ta khỏi chết, Ngài đã phục sinh để chúng được sống. Và Ngài đã để lại vị trí chăn dắt đoàn chiên đó cho các tông đồ, các giám mục và linh mục.

Người lớn không cần bà ngoại. Chiên trưởng thành không cần chủ chăn. Thiếu người chăn dắt thì chiên vẫn sống, không có bà ngoại thì người lớn cũng lớn. Đúng rồi. Bà ngoại đâu có thể làm gì khác hơn là chơi với con nít, nhưng nếu một ngày không còn bà ngoại nữa thì không chỉ có con nít buồn. Một ngày không có chủ chăn thì chiên sẽ bơ vơ và đối mặt với nguy hiềm nhiều hơn. Bà ngoại vẫn ở đó, chủ chăn vẫn âm làm cái công việc chăm nom của mình, còn bạn có cần những người ấy không thì chỉ có bạn biết mà thôi.

Lạy Chúa, giữa thế sự nhiều tiến triển như hôm nay chúng con vẫn cần những chủ chăn tốt để được ngài cho nghỉ ngơi và bổ sức. Giữa cuộc trần đầy tội lỗi, khó khăn như hiện tại đây chúng con vẫn cần chững chủ chăn thánh thiện để làm chứng nhân cho tình yêu Chúa và để kéo trần gian trở lại hoà bình, yêu thương. Xin Chúa cho có thêm nhiều người trẻ sẵn sàng hiến dâng tuổi thanh xuân cho đoàn chiên Chúa bằng một tình yêu trong sáng, thánh thiện.

 

21. Hoà hợp tiền định - Achille Degeest

(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’)

Đang là mùa đông, người ta mừng lễ Cung hiến ở Giêrusalem. Đức Giêsu đi lại trong Đền Thờ. Một nhóm người Do Thái vây quanh, và yêu cầu Chúa nói trắng ra về thân thế Người. Người có đúng là Đấng Mêsia không? Thật vậy, Thày đã công nhiên nói xa xôi cho người ta hiểu Thày chính là Đấng Mêsia. Có những người đơn sơ, không rắc rối, có thiện chí, đã hiểu được về bí mật thân thế Chúa và tin vào Chúa, chẳng hạn người phụ nữ Samaria và kẻ mù bẩm sinh. Người ta cảm thấy những kẻ chất vấn Chúa nhiều phần thắc mắc khó chịu về Chúa, hơn là sẵn lòng nghe Chúa với một tâm hồn cởi mở. Chúa muốn cho những kẻ nặng óc thành kiến phải bỡ ngợ. Chúa không theo lối suy diễn của họ. Vì lẽ họ cho rằng hệ thống suy diễn của mình không thể sai lầm, ông Giêsu này nhất định sẽ lộ hình tích, chính ông đưa ra một lời khai đúng cách, lúc đó họ sẽ có quyền ném đá ông. Đức Giêsu không do dự. Người đưa ra câu đáp trên hai bình diện: tâm tình thích hợp để dễ dàng tiếp nhận chân lý và Kinh Thánh với một giá trị không thể bác bỏ (Lời Chúa viện dẫn Kinh Thánh tiếp ngay sau đoạn Phúc Âm hôm nay). Hai câu hỏi được đặt ra;

1) Tại sao người Do Thái ngoan cố chối bỏ Đức Giêsu? Chúa bắt đầu bằng cách mời gọi họ thấy gì thì tin thế, bởi những việc Người làm nhân danh Cha Người đều làm chứng cho Ngài. Tuy nhiên Chúa nói tiếp ngay, nếu họ bác bỏ bằng chứng ấy, chính vì cớ tâm hồn họ không phù hợp với sứ điệp của Chúa. Họ đã nhất quyết lối xét đoán sự việc của họ là tốt. Thế mới con mắt người ta nhìn thực tại theo khuynh hướng của mình. Nếu thực tại không phù hợp với hệ thống suy diễn của mình, người ta cho rằng chính thực tại là sai. Nhận định này có giá trị sâu sắc đối hành vi tin. Để thực hiện một hành vi tin, trước hết con người phải chấp nhận để cho ân huệ chuẩn bị tâm hồn cách bí nhiệm. Nhưng nhận định này cũng có giá trị đối với phẩm chất của hành vi tin. Nhiều người tự nhận mình tin vào Đức Giêsu Kitô. Nhưng tin vào Đức Kitô nào? Dưới khía cạnh triết lý, xã hội, chính trị, v.v… nào? Luôn luôn chúng ta có lý để băn khoăn không biết con mắt chúng ta có đủ trong sáng không để nhìn Đức Giêsu Kitô?

2) Ý nghĩa câu: không ai giật chúng khỏi tay Ta được là gì? Câu đó có nghĩa: không một quyền năng ngoại giới nào có thể giật người Kitô hữu rời khỏi tay Đức Kitô. Sự trợ giúp của Chúa sẽ mạnh mẽ vô cùng để thắng những khó khăn ngoại giới. Tuy nhiên tại sao có những vụ bất trung bất nghĩa, có cả những vụ bỏ đạo chối Chúa nữa? Sở dĩ như vậy vì quyền năng vô biên của Chúa tuyệt đối tôn trọng tự do tư tưởng của con người. Khi một Kitô hữu xa lìa Chúa, không phải vì Chúa bỏ kẻ ấy, mà chính vì kẻ ấy bỏ Chúa. Cả trong trường hợp đó, Chúa Kitô không rút lại niềm thương yêu của Chúa. Chúng ta hạy nhớ dụ ngôn cho chiên lạc. Tới đây chúng ta đối diện với một vực thẳm bí nhiệm thứ hai. Không những tâm hồn có thể từ chối phù hợp với hành vi tin, mà còn có thể huỷ diệt niềm tin của mình sau khi đã dâng hiến. Chúng ta không được choáng váng trước bí nhiệm ấy, mà phải tăng cường cảnh giác trong niềm trung tín. Nói đơn giản hơn, chúng ta hãy tin chắc rằng, đáp ứng thiện chí hằng ngày của chúng ta, Chúa nắm vững chúng ta trong tình yêu của Người.

 

22. Con chiên của Chúa Giêsu

(Trích trong ‘Niềm Vui Chia Sẻ’)

Anh chị em thân mến, chúng ta vẫn quen gọi các giám mục, các linh mục là các mục tử hay chủ chăn, và anh chị em giáo dân cũng vẫn quen nhận mình là “con chiên”. Kiểu nói nầy bắt nguồn từ trong Kinh Thánh. Ngay từ thời Cựu Ước, tiên tri Êzêkiel đã dùng hình ảnh đàn chiên và chủ chiên để báo trước rằng: chính Chúa sẽ đến chăn dắt dân Israel như mục tử chăn dắt đàn chiên, thay thế hết các người lãnh đạo dân từ trước đến nay. Khi Chúa Giêsu đến, Ngài đã xưng mình là mục tử và là mục tử tốt lành, đích thực, khác với những kẻ chăn thuê, những mục tử giả.

Tin Mừng hôm nay vắn tắt có bốn câu nói về “con chiên” nhiều hơn là chủ chiên, tức là nói về “người giáo dân” hơn là hàng giáo sĩ. Người giáo dân là con chiên của Chúa Giêsu, là người biết “nghe tiếng Chúa”, dám “bước theo Chúa” để không bao giờ phải hư mất, nhưng “được sống đời đời”.

Trước đây, anh chị em có nghe nói mình là “con chiên của các cha” thì lấy làm thường tình, chẳng thắc mắc gì. Nhưng ngày nay, hình ảnh con chiên dễ làm cho người ta hiểu lầm và mặc cảm cho là hạ phẩm giá con người giáo dân - người ta là con người mà coi như con vật - coi giáo dân còn ấu trĩ và thụ động trong Giáo Hội.

Cách đây mấy chục năm, Đức Hồng Y Gasquet trong một cuốn sách nói về người giáo dân, có kể câu chuyện như sau: Một người sắp theo đạo hỏi linh mục về vai trò của giáo dân trong Giáo Hội như thế nào? Linh mục trả lời: “Giáo dân có hai vai trò: một là quỳ gối trước bàn thờ, hai là ngồi quay mặt về tòa giảng”. Và Đức Hồng Y Gasquet hóm hỉnh viết thêm: “Người ta quên mất một vai trò thứ ba, đó là móc ví tiền ra”.

Câu chuyện trên phản ảnh một quan niệm lệch lạc về địa vị giáo dân. Vai trò của người giáo dân bị giản lược vào mấy việc: xem lễ, nghe giảng và góp tiền vào nhà thờ! Ngày nay, Công Đồng Vatican II đã quan niệm Giáo Hội trước tiên là “Cộng đồng Dân Chúa”. Giáo Hội trước hết là giáo dân chứ không phải Giáo hoàng, Giám mục hay Linh mục. Ngày nay, giáo dân phải đứng hàng đầu trong Giáo Hội. Nói như thế không có nghĩa là giáo dân điều khiển tất cả, nhưng có nghĩa là giáo dân phải lãnh phần trách nhiệm sống đạo chủ động của mình, như những người trưởng thành giữa xã hội ngày nay.

Sống đạo trong xã hội “dân chủ tập thể” hôm nay dĩ nhiên giáo dân vẫn phải là những “con chiên” của Chúa, hiền lành yêu thương, đừng hung bạo ác ôn, nhưng cũng phải từ bỏ thái độ ấu trĩ, vô trách nhiệm và thụ động. Chúng ta muốn làm những con người tín hữu đứng hàng đầu, những con người có tinh thần trách nhiệm, dám nhận lãnh sứ mạng, dám sống bổn phận của mình cách chủ động. Với điều kiện đó, chúng ta mới “nghe tiếng Chúa” và “bước theo Chúa” cách đúng đắn và phù hợp với những đòi hỏi của xã hội ngày nay. “Chiên Ta thì nghe tiếng Ta. Chúng theo Ta, và Ta ban cho chúng sự sống đời đời. Không ai giựt chúng khỏi tay Ta được”. Nghe tiếng Chúa là tin nhận Lời của Chúa và bước theo Chúa là dấn thân sống Lời Chúa một cách tự do và chủ động. Nghe và theo Chúa là sống gắn bó thiết thân với Chúa. Bởi vậy, nghe và theo Chúa Kitô tức là bước vào cuộc sống bất diệt ngay từ đời nầy.

Tiếng Chúa hôm nay đang vang lên từ quả tim của từng con người nghèo khổ, bị áp bức, bị bóc lột. Tiếng Chúa hôm nay là tiếng kêu của đồng bào, của cả đất nước, của cả xã hội loài người đang cần nhau để sống, để có cơm ăn áo mặc đầy đủ, để tạo được hạnh phúc chung. Tiếng Chúa đang vang dội từng ngày, từng giờ mời gọi thúc bách chúng ta xung phong đi đầu, dấn thân theo Chúa trên mọi nẻo đường yêu thương, phục vụ, hy sinh. Yêu thương, phục vụ đến chỗ không còn tìm kiếm gì cho riêng mình, không giữ lấy gì cho riêng mình và đến chỗ dám liều chết cho anh em được sống, như chủ chiên dám liều mạng sống vì đàn chiên.

Làm con chiên nghe tiếng Chúa và bước theo Chúa là như thế. Làm người có đạo hôm nay dám sống đạo thật là như thế. Nghe tiếng Chúa và dám bước theo Chúa trong xã hội chúng ta hôm nay phải như thế, và như thế nhất định chúng ta sẽ được sống đời đời, không một sức lực nào có thể cướp giựt chúng ta khỏi tay Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến,

Chúa nhật hôm nay với chủ đề mục tử và đàn chiên được Giáo Hội chọn làm Ngày Thế Giới cầu nguyện cho ơn gọi Giáo sĩ và Tu sĩ. Giáo Hội đang thiếu các mục tử và nhất là các mục tử tốt lành. Tiếng báo động nầy đang vang đến tai chúng ta hôm nay ở nơi nầy, trên đất nước chúng ta. Hiệp ý với toàn thể Giáo Hội hoàn cầu, chúng ta hãy cầu xin cho giới trẻ biết lắng nghe tiếng gọi của Chúa và nhất là có đủ can đảm để bước theo tiếng gọi đó bằng cuộc sống dâng hiến trọn vẹn cho Chúa để phục vụ tha nhân, nhất là những người nghèo khổ, ốm đau, bệnh tật, cô đơn, già yếu…

Sự hy sinh hầu như tuổi trẻ có thừa, nhưng cần rất nhiều yếu tố xã hội góp phần để tuổi trẻ thực hiện quyết định hy sinh quảng đại của mình: cha mẹ, gia đình, và giáo xứ có đóng góp phần đào tạo ơn gọi thì ơn gọi mới nẩy nở và mới được bảo đảm. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, trong sứ điệp ngày thế giới cầu nguyện cho ơn thiên triệu đã viết: “Tôi nói với bậc cha mẹ, dựa vào lòng tin, rằng họ có thể nếm hưởng niềm vui của ân sủng sẽ vào nhà họ, khi một con trai hay con gái của họ được Chúa gọi để phục vụ Ngài… Đặc biệt, tôi hướng về giới trẻ của thời nay và tôi nói với họ: Hãy để cho Đấng Vĩnh Cửu quyến rũ các bạn, và tôi lập lại lời Ngôn sứ Giêrêmia (20,7): “Ngài đã làm cho tôi say mê, lạy Chúa… Ngài đã chinh phục tôi và Ngài đã mạnh hơn tôi”… “Hãy để Đức Kitô quyến rũ bạn. Hãy để gương Ngài lôi cuốn các bạn. Hãy để tình yêu của Thánh Thần yêu mến các bạn… Hãy say mê Đức Kitô để sống cuộc đời của Ngài, hầu nhân loại có sự sống trong ánh sáng Tin Mừng…”. Đức Thánh Cha còn nhấn mạnh: “Thời đại chúng ta sẽ nghèo nàn đi biết bao, nếu sự hiện diện của những cuộc đời dâng hiến cho tình yêu trở nên khan hiếm. Xã hội chúng ta sẽ nghèo nàn đi biết bao, nếu không được thúc đẩy để ngước nhìn lên nơi có những niềm vui chân thật! Giáo Hội chúng ta cũng sẽ nghèo nàn đi biết bao, nếu thiếu những gì biểu lộ một cách cụ thể và mạnh mẽ tính thời sự vĩnh cửu của việc dâng hiến cuộc đời vì Nước Trời”.

Cuối cùng, Đức Thánh Cha giao phó giới trẻ cho Đức Trinh Nữ Maria, đặc biệt các thanh thiếu niên đã được gọi bước theo Chúa Giêsu. Mẹ biết rõ tất cả những khó khăn, chiến đấu và trở ngại các bạn trẻ phải trải qua. Xin Mẹ giúp các bạn trẻ biết nói lên câu: “Xin Vâng” đáp trả tiếng gọi của Chúa, như Mẹ đã thưa khi được Sứ thần truyền tin.

 

23. Bản sắc của một cộng đoàn Kitô giáo

(Suy niệm của Lm. Nguyễn Hữu Thy)

Mỗi thời đại và mỗi sắc dân có những hình ảnh tượng trưng riêng. Mỗi nhà văn hay mỗi vị giảng thuyết là đứa con của thời đại và của dân tộc mình đang sống, vì thế trong văn chương và trong ngôn từ của họ, họ xử dụng chính hình ảnh đó. Do đó, để hiểu được ngôn từ và các bản văn của họ, chúng ta cần phải tìm hiểu các hình ảnh tượng trưng đó: Các hình ảnh đó muốn nói lên ý nghĩa gì? Những gì được dấu ẩn phía sau những hình ảnh đó?

Bởi vậy, nếu trong bài Tin Mừng hôm nay, Ðức Giêsu đã nói đến hình ảnh người mục tử và đoàn chiên, Người đã xử dụng chính những hình ảnh quen thuộc và thân thương đối với những khán thính giả của Người lúc bấy giờ ở các miền quê Pa-lét-ti-na, tương tự như cánh đồng lúa, con trâu hay chiếc cày đối với người Việt nam chúng ta. Ðây là những hình ảnh hoàn toàn tùy thuộc vào thời gian và không gian lúc bấy giờ. Nhưng nội dung các ý nghĩa mà Ðức Giêsu muốn trình bày qua các hình ảnh đó thì lại có giá trị vượt mọi biên giới của thời gian và không gian. Qua những hình ảnh đó thánh sử Gioan muốn nói lên bản sắc đích thực của cộng đoàn Kitô giao, tức sự hiệp nhất giữa Ðức Giêsu và cộng đoàn các tín hữu.

Thật vậy, trong khi đối chất với những người phê bình và những đối thủ của Người, Ðức Giêsu đã dùng tới hình ảnh người mục tử và đoàn vật, để nói lên tính chất gắn bó mật thiết giữa Người và các tín hữu, những “con chiên” thuộc về “đàn chiên” của Người và do Người chăn sóc. Một câu hỏi đã từng làm bận tâm vị thánh sử và cộng đoàn Kitô hữu là: Tại sao nhiều người Do-thái chối từ Ðức Giêsu và không tin nhận giáo lý của Người, mặc dù Người đã ngày đêm đi khắp mọi miền đất nước của họ để rao giảng Tin Mừng Cứu Ðộ cho họ, thương yêu và chữa lành mọi bệnh tật cho họ, cũng như Người đã không ngần ngại làm phép lạ cho bánh hóa nhiều để nuôi sống họ? Thánh sử Gioan chỉ tìm thấy một câu trả lời duy nhất, là: Bởi vì họ không muốn! Bởi vì họ không chịu thoát ra khỏi cái bóng đen của chính mình và không chịu tin vào lời rao giảng và các việc làm của Người, những việc làm đã mặc khải cho họ biết Người là Ðấng nào.

Ðối với những người Do-thái đã từ chối không muốn tin nhận Người, Ðức Giêsu đã trình bày cho họ thấy được thái độ của các con chiên của Người: Chúng luôn biết nghe và đón nhận tiếng Người, nghĩa là chúng tin vào Người. Dĩ nhiên đức tin chân chính và sâu xa không dừng lại nơi sự tuyên xưng bằng môi miệng suông mà thôi, nhưng nó được chứng mình qua thái độ sống cụ thể: Luôn sẵn sàng cùng Ðức Kitô đồng hành trên con đường của Người!

Nhưng đức tin đó không hề là con đường một chiều thuộc về phía người tin, nhưng nó kiến tạo một tương quan hoàn toàn mới mẻ giữa Ðức Giêsu và các tín hữu của Người: Người lo lắng chăm sóc họ, Người biết rõ họ, Người tin tưởng họ và gắn bó mật thiết với họ. Người ban cho họ cuộc sống hạnh phúc trên nơi vĩnh cửu. Và những gì Người ban, Người cũng che chở bảo vệ như thể một kho báu vậy!

Ở đây, Ðức Giêsu hoàn toàn phó thác mọi sự nơi Cha Người, Ðấng ở trên Trời. Người và Chúa Cha là một! Do đó, tất cả những gì Ðức Giêsu nói và hành động, Người đều nói và hành động với uy quyền của Thiên Chúa Cha! Ðiều đó càng làm cho những lời rao giảng của Ðức Giêsu mang một giá trị tuyệt đối. Vì thế ai tin nhận Người, thì có thể chắc chắn được rằng mình cũng được chính Thiên Chúa công nhận và chấp nhận. Ngược lại, ai chối từ Ðức Giêsu, thì đương nhiên cũng “nói không” cùng chính Thiên Chúa. Như thế, vấn đề được đặt ra ở đây là sự cứu rỗi hay sự bất hạnh, sự sống hay sự tiêu diệt. Ðó là quan điểm của thánh sử Gioan về cộng đoàn Kitô giáo.

Vậy, ngày nay dựa theo quan điểm đó chúng ta có nhận thấy mình là cộng đoàn Kitô hữu nữa hay không?

Ðức tin không phải là con đường một chiều. Ðức tin tạo nên sự thông hiệp với Ðức Kitô và với nhau. Phải chăng điều đó cũng là một thực tại trong cộng đoàn Ðức Kitô nơi chúng ta đang sống? Phải chăng trong giáo xứ chúng ta thường đã mong đợi quá nhiều nơi những người khác, như nơi: Cha Quản Xứ, ban hành giáo xứ, các hội đoàn, các giáo lý viên, v.v..., nói tắt: nơi “những người có trách nhiệm”? Còn đâu là sự đóng góp và sự dấn thân của mỗi người trong chúng ta cho cộng đoàn? Chúng ta có sống đức tin của mình một cách đầy xác tín, hầu có thể trở nên nhân chứng cho Ðức Kitô giữa lòng đời hay không? Chúng ta có sống đức tin của mình sao cho người khác phải lưu ý và tìm hiểu tại sao chúng ta tin và chúng ta tin ai không?

Qua Phép Rửa và nhờ đức tin tất cả chúng ta thuộc về một đại gia đình, gia đình Ðức Kitô. Nhưng gia đình này chỉ có thể tồn tại được nhờ vào sự cùng đồng trách nhiệm, sự tha thứ và lòng yêu thương trọn vẹn. Vì như Chúa đã phán: “qua đó thế gian sẽ nhận biết rằng, các con là môn đệ của Thầy” (Ga 13,35). Amen.

 

24. Chúa Nhật 4 Phục Sinh

Chúa nhật thứ IV Phục Sinh hôm nay được gọi là Chúa nhật Đấng Chăn Chiên nhân lành. Vì thế, Lời Chúa hôm nay đều xoay quanh chủ đề chính là mục tử và đoàn chiên. Mục tử, tức là người chăn chiên, là hình ảnh rất quen thuộc đối với người Do Thái. Vì vậy, suốt thời Cựu ước, hình ảnh người chăn chiên trở thành một biểu tượng phong phú và sống động nhất, được dùng để diễn tả tương quan giữa Thiên Chúa và dân Do Thái. Họ như một đoàn chiên riêng của Thiên Chúa, được Người nuôi nấng, chăn dắt, săn sóc một cách đặc biệt. Và bây giờ, Chúa Giêsu áp dụng hình ảnh đó cho chính Ngài và đoàn chiên của Ngài là chúng ta. Chúng ta thấy Chúa dùng hai hình ảnh: người chăn chiên mướn và người chăn chiên tốt lành, để so sánh và diễn tả cho mọi người biết Ngài là người chăn chiên thật, là một mục tử tốt lành.

Thế nào là một mục tử tốt lành? Chúng ta có thể tóm tắt trong hai điều: đó là người mục tử biết các con chiên của mình và ân cần săn sóc chúng. Chúa Giêsu là một chủ chăn tốt lành vì Ngài có đầy đủ hai yếu tố đó. Chúa Giêsu là chủ chăn tốt lành của chúng ta vì Ngài biết chúng ta. Một người chăn chiên chuyên nghiệp biết số chiên trong bầy có bao nhiêu con. Biết từng con một, biết ngày sinh tháng đẻ, biết con nào tới đợt xén lông hay gây giống. Họ có tên gọi cho từng con, biết bệnh tật từng con để chữa trị: con nào hay bị lạnh, con nào làm biếng ăn, con nào hay đi tách ra khỏi bầy, con nào khó tính,... hơn nữa, có khi họ còn chụp hình, còn ghi sổ từng con mỗi năm và cân ký hàng tháng để coi con nào lên ký, con nào xuống ký. Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh đó áp dụng cho Ngài như Ngài đã tuyên bố: " Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi" (Ga 10, 27). Thực vậy, Ngài biết từng con chiên, Ngài biết chúng ta là những con người, là những tín hữu, là những người có tính tình thế nào, tình trạng ra sao. Ngài biết chúng ta còn hơn chúng ta biết mình nữa. Ngài thấu suốt tư tưởng, ước mơ, lời nói, việc làm, dự định, khuynh hướng tốt xấu của chúng ta. Ngài biết rõ từng người: ai là con chiên tốt, trung thành, ngoan đạo, ai là con chiên ghẻ, lười biếng, khô khan, phản bội. Tóm lại, không ai có thể lẩn trốn khỏi mắt Chúa, bất cứ sự gì, dù thầm kín hay bí mật đến đâu, Chúa cũng biết hết. Để rồi từ đó, Chúa Giêsu trở nên một chủ chăn tốt lành đích thực của chúng ta, Ngài ân cần săn sóc cho chúng ta, Ngài hằng ở bên để săn sóc từng người chúng ta nữa, và Ngài còn basự sống đời đời cho chúng ta nữa.

Chúa Giêsu nói mình là Mục Tử tốt lành và Chúa đã hành động xứng đáng với tước vị đó, thì đoàn chiên cũng phải biết đối xử sao cho xứng đáng. Một con vật như con chiên không có lý trí còn biết bổn phận mình với chủ chăn, thì chúng ta, chúng ta có linh tính, thì chúng ta càng phải đền đáp sao cho xứng với tình ưu ái của Chúa chiên vô cùng nhân hậu ấy. Vậy bổn phận của chúng ta là gì? Chúng ta phải suy tôn Chúa là chủ chăn chúng ta bằng lòng tin tưởng và yêu mến. Nhưng suy tôn không phải chỉ ngoài miệng mà phải suy tôn Chúa trong đời sống, trong công ăn việc làm, trong sự đối xử với người chung quanh, trong việc làm chứng nhân cho Chúa. Rồi chúng ta phải tín nhiệm vào Ngài, như con cái tín nhiệm cha mẹ, như bạn bè tin tưởng nhau, như người công nhân tín nhiệm vào nơi chổ mình lao động, thì chúng ta càng phải biết tín nhiệm vào Chúa nhiều hơn. Sau cùng, chúng ta phải biết lắng nghe Lời Chúa và sống theo Lời Chúa, đó là điều chắc chắn vị Chủ chiên sẽ hài lòng, bởi vì ai mà chẳng vui khi thấy người thuộc quyền mình biết vâng nghe theo lời của mình.

Tất cả những điều trên đây chúng ta đều biết cả, nhưng biết mà không đem ra thực hành thì thực là uổng công vô ích. Nhiều khi trong cuộc sống, chúng ta không chối Chúa, nhưng nhiều khi chúng ta hay quên Ngài. Giữ đạo Chúa, nhưng nhiều khi chúng ta quá lo lắng đến tiền bạc, đến vật chất, đến nỗi chúng ta xao lãng các bổn phận thiêng liêng: không đi lễ, làm biếng rước lễ, không chịu đọc kinh hôm kinh mai cầu nguyện với Chúa; rồi cũng bao lần trong đời sống, do cách ăn ở, do cách cư xử của chúng ta thiếu công bình, thiếu bác ái, thiếu yêu thương, không làm chứng cho Chúa trước những người chung quanh.... Chúng ta xin Chúa cho chúng ta can đảm sửa chữa những khuyết điểm, đó là cốt yếu của Lời Chúa dạy hôm nay, là sống tốt trong đoàn chiên của Chúa, cầu xin Chúa cho chúng ta cũng trở nên những con chiên ngoan, biết lắng nghe, vâng phục và cộng tác với Hội Thánh mà cụ thể là những vị chủ chăn của mình một cách tích cực, đầy tình thân ái trong Chúa Kitô.

Mặt khác, năm nay là Năm Thánh cầu nguyện cho các linh mục, là con chiên, chúng ta hãy cầu xin Chúa cho các vị Mục Tử của Chúa, sống hết mình vì đoàn chiên, chu toàn trách nhiệm trong tình yêu và lòng thành tín của Chúa Giêsu; Ngoài ra, hôm nay cũng là ngày Hội Thánh dành để cầu nguyện cho ơn Thiên Triệu linh mục và tu sĩ. Ngày nay, có nhiều tâm hồn trẻ muốn dâng mình cho Chúa. Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho Hội Thánh nhiều người trẻ quảng đại đáp trả lời mời gọi bước theo Chúa, dâng mình cho Chúa, hiến thân phụng sự Chúa và phục vụ dân thánh Chúa. Là Cha mẹ trong gia đình, chúng ta hãy quảng đại dâng con cho Chúa, khuyên bảo và nhắc nhở cho con cháu mạnh dạn đi tu để làm Tông Đồ, làm sáng danh Chúa... Xin Chúa cho chúng con có những vị Mục Tử như lòng Chúa mong muốn.

Lạy Chúa, xin làm cho chúng con trở nên những con chiên ngoan tốt lành của Chúa. Amen.

 

25. Chúa Chiên Lành - McCarthy

(Trích trong ‘Phụng Vụ Chúa Nhật và Lễ Trọng’)

Suy Niệm 1. CHÚA CHIÊN LÀNH NHẬN BIẾT CHIÊN CỦA NGƯỜI

Khoảng giữa thế kỷ 19, Thánh Gioan Bossco bắt đầu làm việc cho giới trẻ nghèo khổ và bị lâm nguy tại thành phố Turin ở Ý. Chẳng bao lâu, các thanh niên nhận ra rằng nơi ngài, đến nỗi một lần kia, khi ngài lâm bệnh nặng, họ đã hết lòng cùng nhau cầu nguyện sốt sắng, và một số người còn muốn được thay thế vào chỗ của ngài, bằng cách tận hiến cả cuộc đời mình cho Thiên Chúa. Sau sự kiện đó Thánh Gioan Bosco đã được hồi phục. Mối tương quan này không thể tồn tại được, trừ phi có sự gần gũi, và sự gần gũi lôi kéo theo sự nhận biết và được nhận biết.

Đức Giêsu, Chúa Chiên Lành nói “Tôi biết các chiên của tôi”. Người biết các chiên của Người một cách chính xác, bởi vì Người là Chúa Chiên Lành. Có nhiều mức độ nhận biết khác nhau. Chúng ta quen biết một số người chỉ qua khuôn mặt hoặc danh tính. Còn đối với những người khác, chúng ta chỉ mới quen biết sơ giao mà thôi. Và có người chúng ta quen biết với tư cách là bạn bè.

Có một điều đáng buồn trong việc không nhận biết con người. Elie Wiesel, một văn sĩ người Do Thái, rất gắn bó với cha của ông, người đã bị chết tại Aushwitz vào năm 1944. Tuy nhiên, khi viết cuốn tự thuật, ông nói:

“Tôi chưa biết bao giờ thực sự nhận biết cha tôi. Thật đau lòng khi phải thừa nhận rằng tôi biết rất ít về con người mà tôi yêu thương nhất trên đời, một con người mà chỉ cần một tia nhìn, cũng có thể lay động tâm hồn tôi. Tôi thắc mắc không biết những người con trai khác có cùng một vấn đề giống như tôi không. Liệu họ có nhận biết cha họ như là một con người nào khác với một khuôn mặt đầy uy quyền, cứ mỗi buổi sáng đều rời khỏi nhà, và trở về nhà vào buổi tối, để nuôi sống cả gia đình chăng?”.

Tôi e rằng đó là một tiếng than phổ biến. Con cái không biết gì về cha mẹ của họ; cha mẹ không biết gì về con cái. Để nhận biết về nhau, cần phải dành ra thì giờ và công sức, những điều này sẽ mang lại thành quả vĩ đại. Khi thiếu mất sự nhận biết này, thì sẽ để lại hậu quả là sự mất mát lớn lao. Cuộc sống trôi qua vô cùng nhanh chóng. Chúng ta biết về nhau một cách nghèo nàn. Bạn không thể yêu thương một người nào đó mà bạn không hề quen biết.

Sự nhận biết đặc biệt quan trọng đối với những người làm công việc săn sóc người khác. Người săn sóc cần phải nhận biết những người làm công việc săn sóc người khác. Người săn sóc cần phải nhận biết những người mà họ săn sóc. Biết tên của những người đó là một bước khởi đầu tốt. Nhưng để thực sự biết về họ, thì phải biết về lịch sử cuộc sống của họ. Những người được săn sóc sẽ không hơn gì những chiếc bóng đối với người săn sóc, trừ phi người săn sóc biết được một số điều về thế giới mà từ đó người được săn sóc xuất phát.

Lối nhận biết mà chúng ta đang nói đến đòi hỏi phải có thì giờ, sự kiên nhẫn và hy sinh. Nhưng sự nhận biết này được bù đắp bằng phần thưởng lớn lao. Bất chấp chúng ta không ưa một cá nhân nào đó như thế nào, nhưng một khi đã biết về lịch sử cuộc đời của người đó, thì thái độ của chúng ta đối với họ sẽ mềm mỏng hơn.

Tuy nhiên, sự nhận biết này phải là một công việc có hai đường lối. Đức Giêsu, Chúa Chiên Lành, biết những con chiên của Người một cách thiết thân. Nhưng họ cũng biết Người: “Những kẻ thuộc về tôi thì biết tôi”. Đức Giêsu không ngại ngùng trong việc để cho mình được nhận biết. Nhưng đôi khi, chúng ta lại có cảm giác đó. Chúng ta không muốn để người khác đi vào cuộc đời của mình. Sẽ không có ai biết được những cảm giác, nhu cầu, nỗi đau và niềm hy vọng thực sự của chúng ta là gì.

Có lẽ nỗi sợ hãi bị khước từ làm cho chúng ta tự co rút mình lại. Chúng ta sợ rằng nếu người ta thực sự biết được con người bất toàn của mình, thì họ sẽ khước từ chúng ta. Hậu quả là người khác sẽ nhận biết về chúng ta theo như hình ảnh mà chúng ta có ý tưởng về mình, hơn là đúng với con người của chúng ta. Sẽ thật là điều đáng buồn, khi chúng ta phải sống và chết đi, mà chưa bao giờ được người khác biết đến một cách sâu xa, chưa bao giờ được kể ra câu chuyện cuộc đời mình.

Làm sao chúng ta có thể tạo thành một mối quan hệ với người khác được, nếu chúng ta cứ giữ một khoảng cách đối với họ, do đó, chúng ta đã ngăn cản không để cho họ nhận biết mình? Nếu họ cũng giữ một khoảng cách đối với chúng ta, và nếu điều đó để lại hậu quả là họ không tin tưởng hoặc sợ hãi chúng ta, thì liệu chúng ta có trách cứ họ không?

Đức Giêsu chính là Chúa Chiên Lành đối với chúng ta. Người mong muốn chúng ta có được sự sống ở nơi đây và có sự sống đời đời sau này. Nhưng đây phải là một công việc hai chiều. Chúng ta phải đáp lại tình yêu của Người. Con Chiên trung thành thì phải biết lắng nghe tiếng nói của chủ chiên và đi theo họ. Chúng ta phải nhận biết Chúa, lắng nghe và thực hành lời của Người.

Suy Niệm 2. TẬN HIẾN CHO ĐÀN CHIÊN.

Đức Giêsu nói “Sẽ không ai cướp được đàn chiên khỏi tay tôi được”. Bằng cách này, Người đang nhấn mạnh rằng đối với Người, đàn chiên quý giá đến thế nào. Nếu có Người giúp đỡ, thì không bao giờ có một điều xấu xa nào có thể xảy ra cho bất cứ người nào trong số họ.

Khi kẻ làm thuê trông coi đàn chiên, thì lũ chó sói không gặp rắc rối nào trong việc rình bắt đàn chiên. Ngay khi kẻ làm thuê nhìn thấy một con chó sói đang tiến lại gần, thì hắn ta liền bỏ rơi đàn chiên. Hắn chỉ nghĩ đến một điều duy nhất là cứu thoát người thân của mình mà thôi. Người chủ tốt lành của đàn chiên thì không như vậy. Họ bảo vệ đàn chiên chống lại sự tấn công của lũ sói, thậm chí họ còn sẵn sàng liều mất mạng sống của mình nữa.

Thật không may, chúng ta đang sống trong một thế giới mà đàn chiên, đặc biệt là những con cừu, thường bị vồ chụp và vật cho chết. Nhưng đây chính là một thế giới mà trong đó, hơn bao giờ hết, người ta càng cần đến người chủ chiên tốt lành. Ngày nay, tất cả mọi sự đều có khuynh hướng to lớn ra và được tập trung hoá, làm cho việc nhận biết và săn sóc trở nên không dễ dàng gì, bởi vì tất cả mọi sự đều mất đi tính chất con người. Trong hệ thống này, con người được thuê mướn và củng cố vì hiệu quả công việc, chứ không vì tình yêu và sự quan tâm săn sóc, mà họ có khả năng bày tỏ ra.

Ngày nay, người chủ chiên tốt lành không chắc hẳn phải đương đầu với một đàn chó sói. Nhưng họ có thể phải đương đầu với một điều gì đó còn tệ hại hơn – một bè lũ tội phạm. Philip Lawrence là một hiệu trưởng tại trường Công Giáo Thánh George ở Luân Đôn. Vào một ngày trong tháng 12 năm 1995, ông đã bị đâm nay bên ngoài trường học của ông, trong khi đang cố gắng bảo vệ một trong số các học sinh đang bị một tên côn đồ tấn công, và ông đã chết vì những vết thương quá nặng. Ông đã được các thính giả cảu chương trình Thời Đại Ngày Nay ở đài phát thanh BBC bình bầu là Nhân Vật Ấn Tượng nhất trong Năm. Ông nhận được 23.130 phiếu bầu, trên cả ông John Major, người sau này làm Thủ tướng (18.260 phiếu).

Vợ ông đã nói rằng chồng bà “chắc chắn sẽ cực kỳ bối rối về tất cả điều này. Ông ấy rất khiêm tốn tới mức độ không tán thành chính bản thân mình”. Thật là một điều hay, khi biết rằng người ta vẫn còn nhận ra sự vĩ đại nơi một hành động giống như vậy. Và thật là một điều hay, khi biết rằng có người nào đó có thể làm được một hành động như vậy, và nhìn vào hành động này như là một điều gì đó bình thường và tự nhiên.

Philip Lawrence là một người chủ chiên nhân hậu đối với các học sinh của ông. Ông đã cố gắng tạo ra được một môi trường an toàn trong đó các học sinh có thể được học hỏi và phát triển, để có thể tự hào về bản thân mình. Đối với ông, ông không thể chấp nhận nổi sự việc cứ để mặc cho một trong số các học sinh của ông bị một tên côn đồ đánh, mà không ra tay ngăn cản.

Philip Lawrence nhắc nhở cho tất cả chúng ta rằng tình yêu đích thực có nghĩa là gì, và tình yêu đó có thể mang giá trị gì. Nếu chỉ yêu thương giới trẻ mà thôi thì chưa đủ, mà chúng con phải được biết rằng chúng được yêu thương. Điều này không chỉ áp dụng nơi học đường mà còn trong gia đình nữa.

Lawrence đã lấy được sức mạnh và tinh thần nơi đức tin Kitô hữu của ông. Ông đang mô phỏng theo tình yêu của Đức Giêsu, Chúa chiên lành, Đấng đã hiến mạng sống cho đàn chiên. Mạng sống của Người không bị lấy đi, cũng không phải theo lệnh của Chúa Cha. Chính Người đã tự ý trao ban, và trao ban một cách vui lòng. Người tự hiến cho đàn chiên, để mang chúng về đồng cỏ của sự sống đời đời.

Mỗi Kitô hữu được gọi là người mang tình yêu thương và sự chăm sóc. Chúa Nhật hôm nay là lễ của những người biết quan tâm đến kẻ khác. Lễ này khuyến khích và nâng đỡ những ai đang cố gắng noi guơng Chúa Chiên Lành, và khêu gợi lương tâm của kẻ chăn thuê.

Những người bước theo đường tình yêu thì tự mở ra khả năng sẽ hạnh phúc hơn những người khác, và cũng đau khổ hơn. Nhưng, như Carlo Carretto nói: “Không có gì là khủng khiếp trên trái đất này nếu điều đó dạy cho chúng ta biết yêu thương”.

 

26. Chúa Nhật 4 Phục Sinh

Anh chị em thân mến.

Nếu có dịp quan sát những trẻ nhỏ, chúng ta sẽ đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Những trẻ của thời đại, dường như càng ngày chúng càng thông minh hơn những thế hệ trước. Từ việc học hành, cách ứng xử, và khả năng biến báo. Đó là những trẻ mà khả năng trí tuệ đã được phát triển. Còn những trẻ rất nhỏ thì sao?

Chúng ta sẽ càng ngạc nhiên hơn khi quang sát. Chúng chưa biết gì, chưa nhìn thấy được nhiều, cũng chưa phân biệt được rõ ràng về bất cứ điều gì. Thế mà khi chúng khó chịu và dùng vũ khí tối hậu của mình là tiếng khóc, thì không ai có thể ngăng được. Chỉ có người mẹ của chúng, khi bà xuất hiện, cho dù không lên tiếng, bà chỉ cần chạm đến, đứa bé sẽ có phản ứng khác ngay, cái phản ứng mà không ai có thể tạo ra cho nó được.

Đứa bé luôn nhận ra người mẹ của mình. Nó cảm nhận rằng: đây là nơi nó được an toàn, được thương yêu, được sống và được bảo vệ. Nó vui mừng khi được ở trong vòng tay của người mẹ. Nó vui mừng khi nhận ra mẹ. Nó cũng có phản ứng khi phải rời xa mẹ, nhất là khi xa vắng người mẹ lâu giờ, nó càng có phản ứng mạnh hơn. Đó là một tâm tình thiêng liêng không ai có thể giải thích được, cái tâm tình gắn liền với con người không thể tách rời được.

"Chiên của Tôi thì nghe tiếng Tôi, Tôi biết chúng theo Tôi."

Chúa Giêsu dùng hình ảnh Chủ Chăn và đàn chiên để diển tả tâm tình của Ngài với con người. Ngài yêu thương và bảo vệ cho đàn chiên. Ngài chăm sóc, gìn giữ cho đàn chiên được an toàn. Ngài lo cho đàn chiên được sống, không những bằng của ăn mà còn cả tình yêu thương bao la. Ngài dùng cả mạng sống mình để bảo vệ cho đàn chiên. Ngài không ngần ngại bất cứ một việc gì khi thấy đàn chiên có lợi. Tình yêu thương của Ngài đối với đàn chiên không thể hiểu được. Ngài muốn những con chiên trong đàn nghe tiếng Ngài gọi để được sống. Ngài muốn những con chiên ở trong sự bảo vệ của Ngài để được an toàn.

Đàn chiên của ngài có những con chiên ngoan, luôn biết lắng nghe để được bảo vệ, thương yêu chăm sóc và có cuộc sống tốt đẹp. Nhưng cũng có những con chiên, đang ở trong đàn, đang được bảo vệ bằng tình yêu thương, đang được nuôi sống, nhưng nó không còn khả năng lắng nghe. Những con chiên đó đang muốn tìm một cuộc sống đặt biệt hơn những con chiên khác. Nó cũng đang lắng nghe, nhưng không phải tiếng của chủ mà tiếng nói tự nơi đâu. Nó đang sống trong đàn mà dường như không thể hòa hợp với đàn.

Nó gây phiền phức, chèn ép và đè bẹp những con chiên bên cạnh mà vẫn nghĩ rằng mình đang giúp đỡ. Vì nó không còn khả năng lắng nghe, nó chỉ biết làm, không phải theo ý chủ, nhưng theo một tiếng nói nào đó. Nó không còn vui mừng khi nhận ra chủ nữa, vì nó không còn nhận ra được tình yêu thương của chủ, nên nó không còn thấy được an toàn trong tay chủ. Nó tìm sự an toàn nơi một người nào khác, nơi một tiếng nói nào khác, ở ngoài người chủ đã từng thương yêu chăm sóc nó.

Mỗi người trong chúng ta là một con chiên trong đàn của Chúa. Chúng ta có là một con chiên ngoan, như đứa trẻ vui mừng khi nhận ra mẹ. Chúng ta có nhận ra và lắng nghe tiếng Chúa nói với chúng ta trong từng trường hợp của cuộc sống? Chúng ta có cảm thấy được an toàn trong lòng bàn tay Chúa? Hay giờ đây chúng ta đang đi tìm sự an toàn ở một nơi nào đó? Mỗi người để ra một phút suy tư để xem chúng ta đang là chiên ngoan biết lắng nghe, hay là chúng ta không còn khả năng lắng nghe tiếng Chúa mà chỉ lắng nghe một tiếng nói nào đó.

Trong đời sống hằng ngày, nếu có Chúa bên cạnh, chúng ta có dám nói những lời mà mình đã từng nói hay không? Chúng ta có dám làm những việc mà mình đã từng làm hay không? Chúng ta đang sống theo tiếng của Vị Chủ Chăn hay đang theo tiếng nói nào, tiếng nói của riêng mình hay của một ai khác? Trả lời được những câu trên chúng ta sẽ biết được mình là một con chiên như thế nào.

Chúng ta cùng nhau cầu xin Chúa, cho mỗi người luôn là một chiên ngoan trong đàn, để chúng ta xứng đáng là một người con được ấp ủ trong tay mẹ hiền.

 

27. Chúng theo Tôi

(Trích trong ‘Manna’)

Suy Niệm

"Hỡi các thiên thần trên trời, các thiên thần của Chúa, các thiên thần của bình an và hoan lạc, xin hãy ném cho nhau những bông hồng, bông súng, những bài hát du dương và những nốt nhạc ngát hương; và xin hãy đổ tràn nhân đức, can đảm và hạnh phúc trên những nữ tì của Chúa"

Đó là câu kết của một bài văn viết bằng tiếng Pháp, thấy nằm trong túi áo của Hàn Mạc Tử lúc ông qua đời. Ông đã viết bài này gần ba tuần trước khi mất để ca ngợi lòng tận tụy của các nữ tu Phan sinh đã chăm sóc ông trong những ngày cuối đời ở Quy Hòa.

Màu áo dòng trắng, sự tươi tắn và những lời ca êm dịu đã làm nhẹ nỗi đau của chàng thi sĩ mắc bệnh phong.

Thế giới hôm nay vẫn cần ai đem đến cho nó chút hương thơm của Tuyệt Đối, chút ngọt ngào của Vô Cùng, để thiên đàng chẳng phải là chuyện xa xôi, huyễn hoặc, Thiên Chúa chẳng phải là huyền thoại vu vơ.

Hội Thánh hôm nay vẫn cần đến những người của Chúa: cần bóng linh mục cho những họ lẻ, bị lãng quên, cần bước chân mạnh dạn ra đi loan báo Tin Mừng, cần sự trầm mặc của người đắm mình trong chiêm niệm cần bàn tay nhẹ nhàng xoa dịu mọi vết thương, và trên hết cần những trái tim không san sẻ, dám yêu hết mình, dám sống hết tình, hết mình cho Thiên Chúa, hết tình cho mọi người, đặc biệt cho những ai đã đánh mất mọi hy vọng.

Cả nước ta có gần 2.000 linh mục và khoảng 7.000 tu sĩ, một con số khiêm tốn trong đất nước gần 80 triệu dân. Trong Chúa Nhật đặc biệt cầu cho ơn thiên triệu, chúng ta nài xin Chúa hãy gọi nhiều tâm hồn và hãy giúp cho họ nghe được tiếng gọi ấy.

Chiên trong bài Tin Mừng hôm nay để chỉ các Kitô hữu, nhưng cũng có thể hiểu về những người sống đời thánh hiến.

Họ là người được Chúa biết từ trong lòng mẹ, và họ cảm nhận được cái biết đầy yêu thương đó.

Họ là người nghe tiếng của Chúa Giêsu, một giọng nói với tất cả nét đặc trưng quen thuộc.

Tiếng ấy đã nhiều lần vang lên, thân thương và cuốn hút.

Tiếng ấy mời gọi họ lên đường để theo sát Ngài hết sức có thể, một Chúa Giêsu nghèo khó, vâng phục và khiết tịnh.

Họ vui lòng bỏ lại những gì họ quý yêu. Nhờ bỏ lại mà họ được tự do thanh thoát. Nhờ sống nghèo, họ được giải thoát khỏi cái tôi ưa chiếm đoạt. Nhờ vâng phục, họ được ra khỏi cái tôi muốn bành trướng. Nhờ khiết tịnh, họ có thể yêu mọi người đến vô cùng. Như thế ràng buộc của đời tu lại đem đến tự do.

Họ có thể được Chúa âu yếm gọi là chiên của tôi, bởi lẽ họ thuộc về Ngài cách đặc biệt.

Ước gì không ai cướp được họ khỏi tay Chúa!

Gợi Ý Chia Sẻ

Hiện nay có ít bạn trẻ sống ở thành phố muốn dâng mình cho Chúa. Theo ý bạn, cuộc sống xô bồ của thành phố thời kinh tế thị trường có ảnh hưởng gì trên việc chọn lựa này?

Theo ý bạn, làm sao nhận ra Chúa kêu gọi mình sống đời thánh hiến? Bạn có quen nhiều nhà Dòng không?

Cầu Nguyện

Lạy Cha là người chủ ruộng tốt lành, đồng lúa đã chín vàng chờ ngày gặt hái.

Xin Cha sai những người thợ lành nghề và tận tụy đến làm việc trong cánh đồng bao la của Cha.

Xin Cha gieo vào lòng các bạn trẻ hôm nay những ước mơ lớn lao, những lý tưởng cao cả.

Xin cho họ biết quên hạnh phúc và tương lai của mình để yêu tha nhân bằng trái tim rộng mở.

Ước gì họ nghe được tiếng kêu của người bị áp bức, cảm được cơn đói khát Lời Chúa và tình thương, thấy được những mất mát của bao người đau khổ, và chạm đến sự trống vắng của tâm hồn lạc hướng.

Xin Cha sai Thánh Thần đến với các bạn trẻ để họ quảng đại đáp lại tiếng gọi của Chúa Giêsu, sống như Ngài đã sống và tiếp tục làm những gì Ngài đã làm trên trần gian.

Cũng xin Cha gìn giữ gia đình và giáo xứ chúng con, thanh lọc bầu khí của trường học và xã hội, để tất cả trở thành những môi trường tốt giúp các bạn trẻ dễ dàng tìm gặp ý Cha. Amen.

 

28. Bắt đầu từ tình yêu

"Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng theo Ta" (Ga 21, 17)

Một buổi sáng đẹp trời, người ta bỗng thấy một đàn cừu đang ăn cỏ phía công viên; rồi chúng tiến lại phía trại lính. Từ xa mấy trăm mét, anh lính gác đã phát hiện...Lát sau, Chỉ còn mấy chục mét nữa là tới bờ rào, bên trong là bãi mìn, nơi cấm xâm nhập. Anh quát lên lớn tiếng. Không ăn thua gì! Đàn cừu cứ ung dung tiến tới. Anh lấy đất đá chọi tới; không được...lại không thấy ai là người chăn đàn cừu cả. Anh đánh kẻng báo động. Sĩ quan trực lập tức chạy ra. Anh hỏi: có nên nổ súng để đe dọa? Ông này cũng phân vân, cuối cùng không đồng ý: vì sẽ có hại nhiều hơn... Làm sao đây? Mấy chục binh lính đã thành hàng phía trước đàn cừu. Chúng vẫn ung dung tiến tới, băng qua họ, đi theo con đầu đàn...15 phút, rồi 20 phút trôi qua! Bất thần có tiếng sáo nổi lên. Tự dưng con đầu đàn ngẩng lên nghe tiếng sáo và đi ngược về phía đó. Cả bầy cừu lập tức đổi hướng đi theo con đầu đàn, theo tiếng sáo... Thì ra chú bé chăn cừu vì mê chơi đã để bầy cừu đi lạc. Chỉ cần nghe tiếng sáo quen thuộc của chú, cả bầy đi theo ngay...Bầy cừu đã nghe tiếng chủ nó...

a. * chiên: còn gọi là cừu, trừu, là loại gia súc hiền lành nhất và có lợi cho người nuôi nhất. Người ta nuôi chiên để xén lông, làm len dệt vải, lấy sữa, mỡ và thịt. Người Do thái không ngạc nhiên khi thấy Chúa dùng hình ảnh này, vì nghề chăn chiên là nghề chính, rất quen thuộc với họ.

* động từ biết: không chỉ đơn thuần là biết, phân biệt với người, với vật khác. Biết còn là tin, đặt niềm tin nơi người đó. Chiên biết chủ chăn, vì chiên tin nơi chủ của mình.

b. Dựa vào kinh nghiệm của mục tử ở Trung Đông, người ta thấy Chúa muốn trình bày mối tương quan đặc biệt giữa mục tử và đàn chiên như sau:

- Chiên luôn đi theo chủ chăn: Người chăn chiên luôn đi trước đàn chiên, vì chúng muốn được hướng dẫn và che chở. Việc chăn bò, hay con vật khác, người chăn đi đàng sau để lùa chúng đi tới.... Chúa Giêsu dùng hình ảnh: "mục tử chăn chiên" để chỉ về mình. Chúa là mục tử, là chủ chăn tốt lành, sẵn sàng hi sinh mạng sống mình để lo cho đàn chiên.

- Chiên nghe tiếng chủ chăn: Ngày hôm nay bên nước Do thái, người ta vẫn còn thấy hình ảnh đàn chiên như Chúa diễn tả. Vào lúc chiều xuống, khi đàn chiên chuẩn bị về chuồng, các chủ chăn đưa chiên đến uống nước ở một dòng suối nào đó. Nhiều bầy chiên khác nhau của nhiều chủ chăn, có thể trà trộn nhau tại nơi uống nước. Chủ chiên không sợ chiên lạc. Khi ra về, chỉ cần một hồi còi, một tiếng sáo...con chiên tự động biết đàn của mình mà tách ra theo đàn mình để về chuồng: Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta. (Gn 10, 27)

Chiên rất thân thiện với chủ chăn: người ta nói rằng khi chiên đang nằm ngủ trong đàn, chủ chăn có thể đi lại hoặc bước qua mình con chiên, chúng vẫn không thức giấc. Ngược lại một người lạ mặt mà làm như thế, con chiên sẽ hốt hoảng và gây kinh hoàng cho chúng. Điều này muốn nói, chủ chăn và đàn chiên phải rất gần gủi, thân thiện với nhau. Chủ chăn và đàn chiên của mình thân thiện đến mức có thể phân biệt và hiểu tiếng kêu của từng con chiên: vui mừng hoặc đau thương. Chủ chăn còn biết tên gọi và tính tình từng con chiên: Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta ban cho chúng sự sống đời đời... (Gn 10, 27-28)

c. Gợi ý sống và chia sẻ: là người Kitô hữu, là con chiên của Chúa Kitô, dĩ nhiên Thiên Chúa Người Mục Tử Nhân Lành biết chúng ta rất rõ. Còn chúng ta là con chiên thì chúng ta đã biết được Chủ Chăn mình như thế nào và đến mức độ nào? Hay là ta chưa biết gì cả?

 

29. Chúa Chiên Lành - Lm Phêrô Bùi Quang Tuấn

“Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta; Ta biết chúng và chúng theo Ta” (Ga 10:27).

Bao biến cố quan trọng đã liên tiếp diễn ra trong lòng Giáo hội suốt cả Năm Đại Thánh 2000. Từ việc phong chân phước cho Thầy giảng Anrê Phú Yên, vị tử đạo tiên khởi của Việt Nam, đến phong hiển thánh cho 120 anh hùng tử đạo Trung hoa; từ sự kiện Đức Thánh Cha công khai sám hối những lỗi lầm của Giáo hội trong quá khứ đến việc hành hương thánh địa Palestine; từ đại hội Giới trẻ, qui tụ trên 2 triệu thanh niên thiếu nữ từ khắp nơi đổ về Rôma, đến việc tiết lộ bí mật thứ ba Fatima… Nhưng biến cố đáng ghi nhận hơn hết phải là việc Đức Thánh Cha chuẩn y bản tuyên ngôn Dominus Iesus (Chúa Giêsu) vào ngày 16.06.2000, và sau đó được Toà Thánh công bố ngày 05.09.2000.

Bản Tuyên ngôn Dominus Iesus là lời xác tín “Không có ơn cứu độ ngoài Chúa Giêsu”. Đây cũng là lời khẳng định tầm mức quan trọng của Giáo hội Công giáo trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa.

Bản tuyên ngôn cảnh giác người tín hữu trước những tư tưởng muốn tương đối hoá các tôn giáo, cho rằng mọi tôn giáo đều có giá trị ngang nhau, đều chứa đựng một số yếu tố cứu độ nào đó dù không tôn giáo nào mạc khải trọn vẹn thánh ý của Thiên Chúa cho con người.

Bản tuyên ngôn phủ nhận có sự đối kháng giữa “não trạng thiên về luận lý của phương tây” và “não trạng thiên về biểu tượng của phương đông”. Bởi vì hệ luận tất yếu của nó là sự khước từ Công giáo như con đường cứu độ tốt nhất cho dân tộc châu Á.

Đang khi đó, Giáo hội tự khẳng định là “cần thiết cho ơn cứu rỗi của nhân loại.” Điều này không có hàm ý “người không có đạo sẽ không được cứu độ”. Đúng hơn, ơn cứu độ của Chúa Giêsu, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, đã liên kết cách nhiệm mầu những người ngoài Công giáo với Giáo hội của Ngài.

Sau khi bản Tuyên ngôn được chính thức công bố, một số phản ứng tiêu cực đã xuất hiện. Có người cho rằng lời lẽ của Dominus Iesus quá trịch thượng với câu “Chỉ nơi Đức Giêsu mới có ơn cứu độ”. Có người nhận xét: bản Tuyên ngôn như thế sẽ làm cản trở con đường đại kết. Thậm chí, có người dám nghĩ Đức Thánh Cha đã không sáng suốt nhận định tình hình trước khi công bố Dominus Iesus. Đây chẳng khác chi thái độ của một số người Do thái sau khi Chúa Giêsu nói về vai trò chủ chiên của mình. Họ tuyên bố: “Hắn bị quỉ ám, và ra điên sảng. Tại sao các ngươi cứ nghe hắn?” (Gn 10:20)

Nhưng rồi, trong ngày tôn phong hiển thánh các anh hùng tử đạo Trung Hoa, Đức Thánh Cha đã tái khẳng định tính chất độc nhất và ơn cứu độ phổ quát của Chúa Giêsu và Giáo hội qua bài giảng như sau:

“Bằng việc công bố Tuyên ngôn “Chúa Giêsu” mà Ta đã đặc biệt chuẩn y vào thời cao điểm của Năm Thánh, Ta muốn mời gọi tất cả các Kitô hữu hãy cùng canh tân sự tín trung của mình vào Chúa Giêsu trong niềm hân hoan của lòng tin, đồng thời cùng nhau làm nhân chứng cho Đấng, hôm nay cũng như hôm qua, ‘là đường, là sự thật, và là sự sống’ (Ga 14:6).”

“Lời tuyên xưng Đức Kitô là Con duy nhất của Thiên Chúa, Đấng đã tỏ cho chúng ta thấy nhan Cha (x. Gn 14:8) không phải là một sự trịch thượng đối với các tôn giáo khác, nhưng là niềm cảm mến tri ân vì Đức Kitô đã tỏ mình cho chúng ta, dù không phải vì công trạng của chúng ta. Nhưng đồng thời Ngài cũng đòi buộc chúng ta tiếp tục trao tặng những gì đã nhận lãnh và thông truyền cho người khác những gì được tặng ban. Trong ý nghĩa đó, Chân Lý và Tình Yêu chính là Thiên Chúa đã được ban tặng cho mọi người và thuộc về mọi người.”

“Cùng với Thánh Tông đồ Phêrô, chúng ta tuyên xưng “Không có ơn cứu độ nơi một người nào khác” (Cv 4:12). Bản Tuyên ngôn Chúa Giêsu, dưới sự hướng dẫn của Công đồng Vaticanô II, nhận định rằng sự tuyên xưng này không có ý loại trừ ơn cứu độ khỏi những ai không phải Kitô hữu, nhưng là chỉ ra cội nguồn ơn ấy nơi Đức Kitô, trong Ngài, con người và Thiên Chúa được hiệp nhất. Thiên Chúa soi sáng cho người ta theo cách thế phù hợp với tình trạng tâm linh và thể chất của họ, giải cứu họ bằng những đường lối mà chỉ có Ngài biết.”

“Bản tuyên ngôn phân định rõ ràng những điểm quan yếu của Kitô giáo. Điều này không cản trở sự đối thoại [đại kết] nhưng chỉ ra nền tảng của nó. Bởi vì đối thoại mà không có nền tảng căn bản thì sẽ thoái hoá thành những ngôn từ trống rỗng…”

“Nguyện xin Mẹ Maria, Đấng mà Chúa Giêsu trên Thánh giá đã ký thác làm Mẹ nhân loại, trở giúp chúng ta cùng nhau lớn lên trong niềm tin vào Đức Kitô, Đấng Cứu Chuộc loài người, trong niềm hy vọng tất cả sẽ nhận được ơn cứu độ nơi Ngài, và trong tình yêu thương như dấu chỉ của con cái Thiên Chúa.”

Hôm nay xem lại một vài văn kiện và những biến cố sảy ra trong Năm Thánh, tôi cảm thấy thấm thía lời nói của Đức Giêsu: “Chiên của Ta thì nghe tiếng Ta. Ta biết chúng và chúng theo Ta. Và Ta ban cho chúng sự sống đời đời” (Ga 10:27-28).

Có những con chiên không quen nghe tiếng chủ mình. Không tha thiết tìm hiểu, học hỏi và suy tư. Nó khó chịu khi phải theo chủ. Thích phóng khoáng và tương đối hoá mọi sự. Cứ tưởng không cần theo Chúa, chỉ “ăn ngay ở lành” là tự giải thoát mình. Nhưng có ăn ngay ở lành nào mà không do tình yêu và lẽ phải tác động. Thế nên, nói cho cùng thì cũng chính nhờ Thiên Chúa, Đấng là Tình Yêu và Chân Lý soi chiếu, mà người ta tìm thấy được “sự sống đời đời.”

Hiệp cùng với Đức Thánh Cha, vị mục tử đại diện Chúa Giêsu ở trần gian, xin dâng lên Thiên Chúa lời cầu xin tha thiết cho bao con chiên đang lầm đường lạc lối, không biết lắng nghe và không chịu bước theo tiếng nói của Giáo hội. Xin cầu cho bao con chiên khác chưa thuộc cùng một ràn, được nên chung một đàn, với một chủ chiên duy nhất là Đức Kitô (Ga 10:16). Xin cho Tin mừng Tình yêu Cứu độ của Ngài được mọi dân nước tin nhận. Để nhờ đó hoa quả hạnh phúc thiên đàng sẽ nở tươi ngay trên trần gian.

 

30. Chiên Ta thì nghe tiếng Ta

(Suy niệm của Lm. Nguyễn Hùng)

Tại Ấn Độ người ta bắt khỉ bằng cách làm một hộp gỗ chắc chắn, cắt một lỗ nhỏ vừa đủ cho con khỉ thò tay vào, nhưng nếu nó nắm trong tay hột "nut" đựng trong hộp, nó không thể lấy tay ra được. Do đó con khỉ có thể chọn một trong hai việc: nó có thể buông hạt "nut" ra và ra đi tự do, hoặc chịu bị bắt. Nhưng con khỉ thường nắm chặt lấy hạt "nut". Khả năng lựa chọn nói lên quyền tự do, tuy nhiên con khỉ không có trí khôn nên không hiểu biết và quí trọng tự do.

Trong tình yêu thương Thiên Chúa đã lựa chọn con người để cho họ được chia sẻ sự sống đời đời. Bối cảnh của đoạn Phúc âm ngắn hôm nay là Chúa đang nói chuyện với người Do Thái trong khi đi dạo tại đền thờ Giêrusalem. Họ trách Chúa Giêsu sao lại để họ nghi nan, thắc mắc Chúa có phải là Đấng Thiên Sai không. Chúa không trả lời trực tiếp cho họ, nhưng nói rằng: "Chiên của ta thì nghe tiếng ta" ta biết chúng và chúng theo ta. Ta ban cho chúng sự sống đời đời" không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay ta. Cha ta, Đấng đã ban chúng cho ta, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha. Ta và Chúa Cha là một."

Chúa Giêsu muốn nói cho người Do Thái biết đức tin vào Ngài là dấu hiệu của người được Chúa tuyển chọn, là chiên của Ngài. Đức tin ban cho con người khả năng nhận ra tiếng Chúa để bước theo. Loài chiên có đôi mắt rất kém, cận thị nặng, nếu có kính chắc phải dày hơn đế chai. Vì thế nó phải theo nhau thành đoàn, và lắng nghe tiếng người chăn chiên mà theo, không theo tiếng người lạ. Ngày nay đức tin nơi nhiều người Kitô hữu đang bị phai nhạt, giảm sút. Sống trong xã hội hưởng thụ vật chất, ưa tìm an nhàn, vui sướng, người ta muốn loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống để thoải mái chạy theo những ước muốn bất chính tự nhiên của con người. Người ta dùng nhiều lý do để bào chữa cho tội lỗi mình, để khỏi phải thống hối và dứt bỏ cảm giác thoải mái do cuộc sống bất chính đem lại. Con người đang dùng tự do của mình để chối bỏ Thiên Chúa, không muốn lắng nghe tiếng Ngài là Đấng Chăn Chiên tốt lành.

Hậu quả của việc chối bỏ Thiên Chúa dẫn đưa con người đến đâu? Nhìn vào xã hội ngày nay, con người ai cũng tham sống, muốn sống lâu, sống bảo đảm về vật chất, về tinh thần. Thế nhưng cái chết vẫn có thể chụp bắt bất cứ ai, từ em bé sơ sinh, nàng thiếu nữ, chàng thanh niên tuổi xuân phơi phới, cho đến cụ già râu tóc bạc phơ. Biết bao nhiêu thay đổi biến chuyển trong cuộc đời khiến con người điên đảo, hụt hẫng, thất vọng đến lao đầu vào cái chết" chỉ trong một lúc, người giầu có với vợ đẹp con khôn có thể mất đi tất cả những điều đó. Khi chối bỏ Thiên Chúa con người chỉ đi đến chỗ diệt vong, vì chỉ một mình Ngài có đủ bản lãnh ban cho chúng ta cuộc sống đời đời, cuộc sống bảo đảm không bị ai cướp đi mất.

Mùa Phục Sinh là thời gian đón mừng sự sống thần linh, vĩnh cửu mà Chúa Kitô đã đem lại cho con người. Sự sống đó chỉ dành cho những ai lựa chọn nghe theo tiếng Chúa, sống theo sự hướng dẫn của Tin Mừng, của Chúa Kitô chịu tử giá và phục sinh. Tiếng Chúa đang kêu mời chúng ta bỏ đi lối sống gian dối, lừa đảo để được mối lợi vật chất, bỏ đi mối tình ngang trái, vụng trộm chỉ đưa đến bất hạnh, tan nát gia đình, bỏ đi gói thuốc, chai rượu, những đêm thâu bên canh bạc, bỏ đi hận thù, ganh ghét, nói xấu, chửi bới, đánh đập nhau... và còn biết bao điều bất hạnh khác mà chúng ta có thể đang mắc phải. Bỏ đi được những điều đó chúng ta mới có thể bước theo Chúa Kitô và tìm thấy cuộc sống đời đời và bảo đảm không bị mất.

 

31. Tôi có thuộc đoàn chiên Chúa không?

(Suy niệm của Lm Fx Nguyễn Hùng Oánh)

Chúa đưa ra tiêu chuẩn: Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi (xem Gioan 10,27-30).

Những người sống nghề chăn nuôi và ruộng vườn như dân Do thái, họ hiểu ngay lời Chúa vừa nói. Người chăn bầy chiên mấy trăm con, chỉ cần lên tiếng kêu, các con chiên đang ăn cỏ lẫn lộn với bao nhiêu con khác thuộc nhiều bầy khác liền ngoan ngoãn chạy tới người chăn. Ai nuôi chó giữ nhà cũng có kinh nghiệm này: chủ lên tiếng kêu, chó nhảy tới hoặc đang sủa, chủ đe, chó im ngay.

Chiên nghe tiếng chủ vì chiên phân biệt được tiếng của chủ với tiếng người khác, vì chiên quen tiếng chủ, vì chiên thuộc về chủ. Nếu không phải chiên của chủ thì không nghe tiếng chủ. Người thuộc về Chúa thì nghe tiếng Chúa, không thuộc về Chúa thì không nghe tiếng Chúa.

Người Do Thái hỏi Chúa: Mãi đến bây giờ chúng tôi còn phân vân về ông, ông là ai xin nói ngay cho chúng tôi biết. Hỏi như vậy tỏ ra họ chưa thuộc đoàn chiên Chúa vì “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi”, nhận ra Chúa ngay, đâu cần phải hỏi. Hỏi như vậy, h? tỏ ra là kẻ xa lạ, người xa lạ đến để tìm hiểu. Nhiều lần, người Do thái hỏi Chúa là ai và Chúa dd? ngh? họ cứ nhìn vào việc làm, lời nói của Chúa mà biết. Lần này, Chúa trả lời mạnh hơn: Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tức là nghe tôi nói, thấy việc tôi làm thì nhận ra tôi rồi, không phải để tôi nói tôi là ai.

Trong đời sống, có lúc gặp nguy nan, ta kêu cầu Chúa mà không được, thấy Chúa cứ yên lặng, ta đâm ra nghi ngờ Chúa, hỏi Chúa là ai? Một câu hỏi tố cáo ta, hình như ta muốn bước khỏi đàn chiên, hình như Chúa không phải là chủ chăn của ta.

Theo Chúa vì đời sống sung túc, vì gặp nhiều may mắn xem như là ơn của Chúa ban riêng cho mình thật chẳng có gì bảo đảm, vì Chúa chỉ bảo đảm: Tôi cho chúng được sống đời đời và không ai có thể cướp chúng khỏi tay tôi. Hai bảo đảm săn sóc và ban sự sống đời đời thuộc lãnh vực tâm linh, còn những điều ta lo lắng, băn khoăn trong đời sống trần gian, Cha v?n gip nhung ta phải tự giải quyết lấy. Lời Chúa soi sáng hướng dẫn, ơn Chúa phù giúp ta để ta giải quyết, lo lấy, làm sao cho phù hợp Thánh ý Chúa. Chúa phù trợ mà ta không cảm thấy nhưng chắc chắn là Chúa luôn nhìn thấy ta, theo dõi ta từng bước.

Để đảm bảo cho lời nói “ban cho đàn chiên sự sống đời đời”, cũng phải hiểu phải có đời sống trần gian chứ, Chúa Kitô nại tới Chúa Cha: đoàn chiên của Chúa Cha và Chúa Cha trao cho Chúa Kitô. Chắc chắn không có một quyền nào lấy đoàn chiên khỏi tay Chúa Cha, nhưng khi đoàn chiên trao cho Chúa Kitô, đoàn chiên có thể mất không? – Không thế mất vì Chúa Kitô có quyền như Chúa Cha, vì thế Chúa Kitô tuyên bố: Tôi và Cha tôi là một.

Chúng ta cảm tạ Chúa khi nghe bài Phúc âm này vì chúng ta thuộc đoàn chiên Chúa, tức là chúng ta đã nghe tiếng Chúa và nhận ra Chúa là chủ chăn của chúng ta. Bao lâu còn nghe tiếng Chúa thì chúng ta còn là chiên của Chúa. Nếu không nghe tiếng Chúa từc là không sống theo lời Chúa nữa, thì lúc đó chúng ta tự ý tách mình khỏi đoàn chiên của Chúa, ta sẽ “đánh mất sự sống đời đời” và cả ý nghĩa đời sống trần gian nữa. Bài Phúc âm vừa làm ta vui vừa bắt ta phải sống theo tiếng Chúa dạy.

 

32. Chúa Chiên Lành - ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Hình ảnh chiên cừu dễ gây ngộ nhận vì người ta cho rằng chiên cừu chẳng biết làm gì hơn là ngoan ngoãn vâng lời. Nhưng con chiên trong bài Tin Mừng ta vừa nghe hoàn toàn không có tính cách thụ động như thế. Trái lại phải tích cực, chủ động. Sự tích cực chủ động của đoàn chiên được Chúa Giêsu diễn tả bằng những từ “nghe” và “theo”: “Con chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta”.

Nghe. Chúa Giêsu chính là Lời của Thiên Chúa, nên ta phải nghe Người. Nhưng nghe được Lời của Thiên Chúa không phải dễ.

Không dễ, vì Lời Thiên Chúa nhẹ nhàng như lời thì thầm của mây gió, sâu thẳm như tiếng nói của đáy đại dương, im lặng và bí hiểm như tiếng vỗ của một bàn tay. Trong khi đó lời của trần gian, của ma quỷ lại ồn ào như một ngày hội, gào thét như cuồng phong và điên loạn như chiến tranh.

Không dễ, vì Lời Thiên Chúa mời gọi người ta vào con đường chật hẹp của từ bỏ mình, dẫn ta lên một ngọn đồi gai góc của thập giá hy sinh và thách thức ta phục vụ đến hy sinh cả mạng sống. Trong khi đó lời của trần gian, của ma quỷ mở ra đại lộ thênh thang của danh vọng, dẫn ta đến dìm mình trong đại dương hưởng thụ và hứa ban tặng cho ta tất cả vinh hoa phú quý trên đời.

Vì thế, để nghe được Lời Chúa, ta phải có một đôi tai thật bén nhạy, được hướng dẫn bởi trí phán đoán sáng suốt và một trái tim yêu mến nồng nàn. Nghe Lời Chúa với một thái độ như thế sẽ dẫn ta đến chỗ theo Chúa.

Theo. Theo ai là quyến luyến, gắn bó và ràng buộc đời mình vào đời người đó. Như thế theo ai là từ bỏ chính mình, cuộc đời mình để chia sẻ cuộc sống với người khác.

Theo tâm lý học, trong tình yêu có ba mức độ. Mức độ thứ nhất: Thích nhìn, nghe người mình yêu. Mức độ thứ hai: Trong mọi chương trình, tính toán của đời mình đều có bóng dáng của người yêu. Mức độ cuối cùng: Chia sẻ tất cả những gì mình có, kể cả cuộc sống vì người yêu.

Như thế, theo tức là yêu thương ở cao độ. Con chiên đi theo Chúa như thế phải hoàn toàn chủ động và nhất là thiết lập một quan hệ mật thiết với Chúa là Chủ đoàn chiên. Hành động của Chúa chiên tốt lành được Chúa Giêsu tóm gọn trong hai động từ: “biết” và “cho”.

Biết. Người chăn chiên tốt lành biết rõ từng con chiên. Ông biết tên từng con. Ông biết tình trạng sức khoẻ cũng như nhu cầu của từng con chiên. Tương tự như thế, Chúa Giêsu biết rõ mỗi người chúng ta. Người không chỉ biết mà còn thông cảm với mọi hoàn cảnh của ta. Ta buồn vì bị người yêu phụ bạc ư? Người cũng đã biết thế nào là nỗi đau của người bị phản bội. Ta cay đắng với kiếp nghèo đeo đẳng ư? Chúa Giêsu cũng đã sinh ra không nhà, sống ngoài đường và chết trần truồng trên thập giá. Ta tuyệt vọng vì cuộc đời không lối thoát ư? Chúa Giêsu đã trải qua những giờ phút đen tối trong vườn Giếtsimani và trên thập giá. Ta cô đơn vì bị mọi người xa lánh ư? Chúa Giêsu cũng đã bị mọi người chối bỏ, và Người cảm thấy như Đức Chúa Cha cũng từ bỏ Người. Ta bị sỉ nhục mất hết uy tín ư? Chúa Giêsu đã bị nhục nhã và mất hết uy tín khi phải chết như kẻ tội đồ nô lệ.

Chúa Giêsu là người chăn chiên tốt lành, hiểu biết mọi ngõ ngách u ẩn trong đáy lòng người, nên có thể chăm sóc an ủi từng người chúng ta.

Cho. Chúa Giêsu là mục tử tốt lành vì đã tặng ban cho tất cả đoàn chiên món quà quý giá nhất là sự sống đời đời, sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa, sự sống của chính bản thân Ngài. Sống sự sống của Thiên Chúa rồi, đoàn chiên sẽ kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa. Không ai cướp được đoàn chiên khỏi tay Người, vì Người dùng chính mạng sống mình mà bảo vệ. Người ràng buộc đời mình vào sinh mạng của đoàn chiên. Từ nay đoàn chiên và chủ chiên trở thành một cộng đồng sinh mệnh, sống chết có nhau, kết hợp với nhau trong một tình yêu thương không có gì có thể tách lìa được.

Chúng ta đang sống trong một thời đại đầy thay đổi. Cuộc sống đang mở ra những chân trời mới đầy quyến rũ nhưng cũng đầy nguy hiểm cho đời sống tâm linh chúng ta. Những giá trị bị đảo lộn. Những con chiên đang bị lôi kéo rời xa đoàn chiên. Nhu cầu cuộc sống xô đẩy chúng ta ra khỏi cộng đoàn khiến nhiều người trở thành những con chiên bơ vơ không người chăn dắt. Trong một hoàn cảnh mới mẻ như thế, chúng ta rất cần có những vị mục tử thực sự hiểu rõ nhu cầu của đoàn chiên và thực sự hiến mình phục vụ đoàn chiên. Chúng ta hãy cầu nguyện cho có nhiều người trẻ biết đáp lời Chúa mời gọi, hiến mình cho Chúa để phục vụ anh chị em trong nhiệm vụ mục tử. Chúng ta cầu nguyện cho các linh mục của chúng ta trở thành những mục tử tốt lành noi guơn Vị Mục Tử duy nhất là Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta.

Lạy Chúa là là Mục Tử chăn giữ đời con, xin cho con biết lắng nghe tiếng Chúa và bước theo Chúa. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1. Đã bao giờ bạn nghe được tiếng Chúa nói trong sâu thẳm tâm hồn bạn chưa?

2. Có lần nào bạn cảm nghiệm được sự ngọt ngào được sống thân mật với Chúa chưa?

3. Bạn cũng là Mục Tử của gia đình bạn, xóm bạn ở, sở nơi bạn làm việc. Bạn có là Mục Tử tốt lành không?

 

33. Chúa Nhật 4 Phục Sinh - JKN

1. Người mục tử phải thật sự yêu thương đàn chiên

Đọc bài Tin Mừng, ta thấy ngay sự quan hệ tốt đẹp, đầy yêu thương, và gắn bó đến mức sống chết với nhau giữa mục tử và đàn chiên. Quan hệ ấy quả là gương mẫu tuyệt vời cho mọi quan hệ ở trần gian này giữa các vị mục tử và những giáo hữu mà các ngài có trách nhiệm chăm sóc. Quan hệ giữa mục tử và giáo hữu có tốt đẹp hay không tùy thuộc vào cả hai phía, nhưng bình thường thì chủ yếu và tiên khởi vẫn thuộc về phía mục tử.

Đức Giêsu nói: “Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi. Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong, và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi”. Tại sao chiên lại nghe và theo người mục tử, mà không nghe và theo người lạ hay kẻ trộm? Chính vì đàn chiên đã cảm nhận được tình yêu thương đậm đà mà người mục tử dành cho chúng. Để là mục tử đúng nghĩa, điều quan trọng là phải có tình yêu đối với những người mà Thiên Chúa trao trách nhiệm cho mình chăm sóc. Điều này đòi hỏi người mục tử phải yêu mến Thiên Chúa hay Đức Giêsu thật sự và nồng nàn.

Chắc chắn không phải là không có ý nghĩa việc Đức Giêsu, trước khi giao cho Phê-rô trách nhiệm coi sóc đàn chiên của Ngài, đã phải hỏi ông tới ba lần: “Này anh Si-mon, con ông Gio-an, anh có mến Thày hơn các anh em này không?”. Thật vậy, có yêu Thiên Chúa là nguồn mạch tình yêu, có yêu Đức Giêsu nồng nàn thì mới có đủ tình yêu cần thiết để hy sinh cho đàn chiên như nhu cầu thực tế của đàn chiên đòi buộc. Người mục tử có thật sự yêu thương đàn chiên, thì đàn chiên mới cảm nhận được tình yêu người mục tử dành cho họ, để dựa vào đó họ tin tưởng và nghe theo người mục tử. Người mục tử sẽ chẳng làm được gì ích lợi cho đàn chiên nếu đàn chiên không tin tưởng và không vâng nghe lời người mục tử.

Tóm lại, muốn đàn chiên tin tưởng và nghe theo mình, người mục tử phải thật sự yêu thương đàn chiên.

2. Tình yêu của người mục tử phải được biểu lộ bằng hành động.

Làm sao bổn đạo có thể cảm nhận được tình yêu của mục tử đối với mình, nếu người mục tử không có những hành động cụ thể biểu lộ tình yêu ấy? Đức Giêsu đã đưa ra những hành động cụ thể của Ngài, với tư cách là Mục Tử tốt lành như sau:

- Trước hết là “tôi biết chúng” (Ga 10,27), và có thể “gọi tên từng con” (10,3). Nếu người mục tử yêu thương chiên của mình thật sự, thì sẽ phải chú ý đến nhu cầu của từng con chiên một, để chăm sóc chúng, để đáp ứng đúng nhu cầu của từng con. Tôi biết có những linh mục thường xuyên đi thăm các gia đình trong họ đạo, và biết rõ tên của từng người trong từng gia đình, cùng với hoàn cảnh và nhu cầu của từng người, từng gia đình một. Người bổn đạo sẽ cảm nhận được tình thương của người mục tử ngay khi thấy ông gọi trúng tên mình, biết rõ hoàn cảnh của mình, và đáp ứng kịp thời đúng nhu cầu của mình.

- “Tôi đến để chiên được sống và sống dồi dào” (10,10), “Tôi ban cho chúng sự sống đời đời; không bao giờ chúng phải diệt vong và không ai cướp được chúng khỏi tay tôi” (10,28). Người mục tử tốt lành luôn quan tâm đến sự sống, hạnh phúc và sự an nguy của đàn chiên, nhất là đời sống tâm linh. Nhưng ông không chỉ quan tâm đến đời sống tâm linh, mà còn quan tâm đến cả đời sống thực tế của đàn chiên. Đức Giêsu luôn luôn quan tâm đến nhu cầu vật chất của dân chúng: chẳng hạn trong phép lạ hóa bánh ra nhiều: “Ta mua đâu ra bánh cho họ ăn đây?” (Ga 6,5), hay sau khi làm cho đứa con gái ông Gia-ia (trưởng hội đường) chết sống lại, thì Ngài “bảo họ cho con bé ăn” (Mc 5,43).

- “Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho đàn chiên” (Ga 10,11). Không người mục tử nào ngu dại đến nỗi coi sự sống của đàn chiên quí hơn mạng sống mình, trừ trường hợp đàn chiên ở đây không phải là thú vật, mà là những con người, là hình ảnh Thiên Chúa hay con cái Thiên Chúa, hay nói cách khác là hiện thân của Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa cũng đã yêu thương con người đến nỗi đã sẵn sàng hy sinh Con Độc Nhất của mình cho con người (x. Ga 3,16). Người bổn đạo đối với người mục tử không phải chỉ là những con chiên mà là những linh hồn hết sức quí giá, đáng cho người mục tử hy sinh mạng sống mình vì họ. Thái độ này khác hẳn với thái độ của người làm thuê, hay mục tử giải được biểu lộ bằng hành động hiệu, là “khi thấy sói đến thì bỏ chiên mà chạy (...) không thiết gì đến chiên” (Ga 10,12-13).

3. Những mục tử xấu, giả hiệu

Thánh Kinh không chỉ nói đến những mục tử tốt lành, nhưng còn nói đến những mục tử giả hiệu - mà Đức Giêsu ví như bọn chăn chiên thuê - chỉ biết nghĩ đến mình, nghĩ đến sự an nguy, quyền lợi hay hạnh phúc của mình, chỉ biết rút ra những lợi lộc từ đàn chiên, mà không nghĩ gì đến quyền lợi hay hạnh phúc của đàn chiên. Ngôn sứ Giê-rê-mi-a viết: “Khốn thay những mục tử làm cho đàn chiên Ta thất lạc và tan tác (...) các ngươi đã xua đuổi và chẳng lưu tâm đến chúng” (Gr 23,1-2). Ngôn sứ Ê-dê-ki-en viết: “Khốn cho các mục tử Ít-ra-en, những kẻ chỉ biết lo cho mình! (...) Sữa chiên thì các ngươi uống, len của chúng thì các ngươi mặc, con nào béo tốt thì các ngươi giết, và chẳng thèm lo chăn dắt đàn chiên. Chiên đau yếu các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương các ngươi không băng bó; chiên bị lạc các ngươi không đưa về; chiên bị mất các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc. Chiên của Ta tán loạn vì thiếu mục tử và biến thành mồi cho mọi dã thú, khiến chúng bị tán loạn. Chiên của Ta tản mác trên các ngọn núi, trên mọi đỉnh đồi, trên khắp mặt đất, thế mà chẳng ai chăm sóc, chẳng ai kiếm tìm” (Ed 34,2-6). Thiên Chúa đã dùng miệng ngôn sứ Ê-dê-ki-en để nguyền rủa loại mục tử này: “Bởi các mục tử chỉ biết lo cho mình mà không chăn dắt đàn chiên của Ta, nên hỡi các mục tử! Đây Ta chống lại các ngươi. Ta sẽ đòi lại chiên của Ta, Ta sẽ không để các ngươi chăn dắt chiên Ta nữa (...) để chiên của Ta không còn làm mồi cho chúng nữa” (Ed 34,8b-10).

Thời nào cũng có những mục tử nhân lành, vị tha, nhưng chẳng có thời nào lại vắng bóng những mục tử xấu, ích kỷ. Điều đáng tiếc là trong một số giáo hội địa phương, đời sống thoải mái với vật chất đầy đủ và mặc nhiên được trọng vọng của các linh mục, giáo sĩ đã khiến cho khá nhiều người phấn đấu để trở nên linh mục, giáo sĩ vì những động cơ thấp kém. Vì thế, trong những giáo hội ấy, những mục tử nhân lành dám sống chết vì đàn chiên, dám hy sinh cho đàn chiên không nhiều như trong những giáo hội mà người ta được thúc đẩy làm linh mục và giáo sĩ vì những động cơ siêu nhiên hơn. Do đó, những linh mục và giáo sĩ tương lai cần phải luôn luôn quan tâm thanh lọc động cơ thúc đẩy mình theo đuổi đời sống tu trì. Động cơ tốt nhất phải là tình yêu đích thực và nồng nàn đối với Thiên Chúa và tha nhân, muốn cho tất cả mọi người đều được hạnh phúc cả đời này lẫn đời sau.

Cầu nguyện

Lạy Chúa, trong Giáo Hội của chúng con, chắc chắn không thiếu những mục tử thánh thiện, luôn yêu thương và sẵn sàng hy sinh tất cả cho đàn chiên. Nhưng chắc chắn cũng có những mục tử chưa yêu thương và hy sinh cho đàn chiên như lòng Chúa mong ước, như nhu cầu của đàn chiên đòi hỏi. Chúa là Mục Tử Gương Mẫu, xin hãy gia tăng số mục tử nhân lành lên, xin hãy làm cho ngọn lửa yêu thương bùng cháy lên trong tâm hồn các mục tử, để Giáo Hội càng ngày càng trở nên tốt đẹp, có khả năng biến cải thế giới và xã hội thành nhân bản hơn, chan hòa tình Chúa tình người hơn. Amen.

 

34. Mục tử nhân lành

Đọc đoạn Tin Mừng hôm nay Ga10, 27-30 cùng với việc hôm nay mừng lễ Chúa Chiên Lành làm cho tôi nhớ lại hình ảnh Chúa Chiên Lành được các nhà tạc tượng dựng nên ở đây đó. Đó là một hình ảnh Đức Kitô mục tử, tay cầm gậy, tay nâng đỡ con chiên được Ngài vác trên vai. Một hình ảnh mục tử thật đẹp. Tay cầm gậy để bảo vệ đàn chiên khỏi lang sói, khỏi bị thú dữ tấn công cũng như có thể đưa đàn chiên của mình đi đến những đồng cỏ xanh tươi, đến những dòng nước mát trong lành cho dù xa xôi. Tay còn lại nâng đỡ con chiên, nâng đỡ chứ không kiềm chặt, đã đặt chiên trên vai lại còn nâng đỡ ưu ái yêu thương chiên của mình "Ta là mục tử nhân lành, mục tử nhân lành hy sinh mạng sống vì đoàn chiên" (Ga10, 11). Có thể con chiên được vác trên vai là con chiên lạc. Đáng lý theo thường tình thì con chiên lạc sẽ bị rượt đuổi, thúc ép để mau trở về đàn. Nhưng với mục tử Giêsu thì tìm gặp con chiên lạc thì ân cần vác chiên trên vai, nâng đỡ đưa về đàn. Không ép buộc nhưng nâng đỡ để chiên tự do cảm nhận được tình yêu mà trở về đàn.

Trở lại đoạn Tin Mừng hôm nay, chỉ trong một câu Chúa Giêsu đã làm nổi bật quan hệ của Ngài với chiên của Ngài "Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi, tôi biết chúng và chúng theo tôi". Chúa Giêsu chính là vị mục tử thật và chiên của Ngài chính là mỗi người chúng ta. Trong câu nói của Chúa Giêsu có ba động từ được đưa ra làm nổi bật mối liên hệ giữa mục tử và đàn chiên

Biết: theo Kinh Thánh chữ biết có ý nghĩa sâu xa rộng lớn. Biết có nghĩa là yêu mến, là thuộc trọn về đối tượng, là gắn bó nên một với đối tượng. Chúa Giêsu biết chiên của mình nghĩa là Ngài yêu thương, nên một với mọi Kitô hữu. Ngài trao hiến trọn vẹn cuộc đời mình cho đoàn chiên.

Phía đoàn chiên thì nghe và đi theo. Nghe là biết chấp nhận, tin tưởng hoàn toàn và thật lòng yêu mến.

Đi theo: Là thái độ dứt khoát chọn lựa Thiên Chúa, dứt khoát là chiên của mục tử Giêsu, dứt khoát sống theo lời người. Mối tương quan của Chúa Giêsu mục tử và đoàn chiên hệ tại duy nhất trong tình yêu. Một tình yêu xuất phát từ chính Thiên Chúa. Nghe và đi theo là đòi hỏi của Chúa Giêsu dành cho những ai muốn là chiên của Ngài. Cái "biết?" của Chúa Giêsu đối với mỗi người chúng ta là cái biết cá vị, không phải biết cách chung chung hay biết như những con số, nhưng là một cái biết từng người một trong mối liên hệ với Ngài.

Ở Châu Phi, có một bộ lạc khá kỳ lạ. Họ không bao giờ đếm, không ai biết tí gì về toán học. Có một người hỏi người dân bản địa có bao nhiêu con cừu. Anh đáp không biết. Vậy nếu lỡ mất một hai con thì làm sao anh biết được? Câu trả lời rất ý nhị "Không phải tôi mất một con số mà là tôi mất một bộ mặt..." phải có tình yêu thương nồng nàn gắn bó lắm với đoàn chiên mới cảm nhận được từng khuôn mặt của từng con một. Chúa Giêsu mục tử Ngài không xem chúng ta như những con số nhưng là từng con người một.

Hôm nay mừng lễ Chúa Chiên Lành, chúng ta hãy cầu xin cho các vị mục tử là những người đại diện cho Chúa Giêsu mục tử biết nêu gương Thầy mình là vị Mục Tử Nhân Lành hy sinh cho đoàn chiên. Xin Chúa cho các ngài luôn để tâm học hỏi, suy niệm để luôn gắn bó, để múc được nguồn sống nơi Chúa Giêsu mục tử mà trao lại sự sống ấy cho đoàn chiên mà các ngài có nhiệm vụ dẫn dắt. Xin cho các Ngài cũng biết yêu thương đoàn chiên mà các ngài được trao phó để thể hiện được khuôn mặt Đức Giêsu mục tử nơi đoàn chiên mình.

Còn mọi người Kitô hữu chúng ta được mời gọi để trở nên con chiên của Chúa. Chúng ta cũng phải biết nghe và đi theo Ngài. Nghe và đi theo với một lòng tin tưởng sâu xa. Tin rằng Chúa luôn yêu thương và dẫn dắt chúng ta đến đồng cỏ xanh tươi mang lại sự sống đời đời. Hơn nữa mỗi người Kitô hữu chúng ta còn có nhiệm vụ cầu nguyện để cho có nhiều người dám chấp nhận từ bỏ, chấp nhận hy sinh để trở nên người đại diện cho Chúa Giêsu mục tử đích thực.

Hãy gắn bó với Chúa Giêsu mục tử qua Giáo hội của Ngài để mỗi ngày chúng ta càng trở nên những người Kitô hữu đích thực.

 

35. Mục Tử Nhân lành - ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Dân Do Thái là dân du mục. Cuộc đời họ gắn liền với đoàn vật và những đồng cỏ. Nên khi Đức Giêsu đưa ra hình ảnh người mục tử và đoàn chiên, người Do Thái hiểu ngay tức khắc. Đức Giêsu đã dùng hình ảnh quen thuộc ấy để nói lên mối liên hệ của ta với Người và của Người với ta. Người là Mục tử nhân lành. Ta là đoàn chiên của Người. Người lãnh đạo đoàn chiên không phải bằng uy quyền áp chế, bằng kỷ luật khắc nghiệt, nhưng bằng tình yêu tha thiết. Tình yêu của Người được biểu lộ qua ba khía cạnh: hiểu biết, quan tâm chăm sóc và hy sinh cho đoàn chiên.

Tình yêu của Đức Giêsu là tình yêu hiểu biết. Sự hiểu biết này không phát xuất từ lý trí, do học hỏi, nhưng phát xuất từ trái tim, do tình yêu. Khi yêu, trái tim trở nên vô cùng nhậy bén đến độ hiểu được hết những âm thanh của tâm hồn và tai người thường không nghe thấy, nhìn thấy hết những gì ẩn kín trong tâm hồn mà mắt thường không nhìn thấy, cảm nhận được hết những chiều sâu thăm thẳm của tâm hồn mà không một nhà tâm lý học nào có thể cảm được. Khi Đức Giêsu nói: “Ta biết chiên Ta” có nghĩa là Người hiểu biết từng người trong chúng ta. Người không chỉ hiểu rõ hoàn cảnh sinh sống của chúng ta, mà còn thấu rõ tâm tư tình cảm của ta. Người biết những gánh nặng mà ta đang phải gánh. Người thông cảm với những đau đớn mà ta đang phải chịu. Người đau những nỗi đau trong tâm hồn ta. Người khổ những nỗi khổ đang dày vò ta. Người nhức nhối trong vết thương của tâm hồn ta.

Tình yêu của Đức Giêsu là tình yêu quan tâm chăm sóc. Sự hiểu biết sâu xa đến từ sự quan tâm chăm sóc. Sự quan tâm chăm sóc cũng phát xuất từ tình yêu. Có yêu mới quan tâm. Có quan tâm mới hiểu biết nhu cầu. Có hiểu biết nhu cầu mới biết đường chăm sóc. Đức Giêsu yêu thương ta nên Người quan tâm đến ta. Người biết rõ những nhu cầu của ta. Người chăm sóc ta. Có những tình yêu muốn chiếm hữu. Đó là thứ tình yêu ích kỷ. Có những chăm sóc khiến ta trở nên ấu trĩ, yếu ớt, không lớn lên được. Đó là thứ chăm sóc độc đoán ràng buộc. Đức Giêsu chăm sóc không phải để ràng buộc ta nhưng để giúp ta sống trong tự do. Người chăm sóc ta không phải để ta trở nên ấu trĩ, nhưng là để giúp ta trưởng thành. Người chăm sóc ta không phải để ta trở nên yếu ớt nhút nhát, nhưng là để giúp ta mạnh mẽ, tự tin. Vì thế, Người cung cấp cho ta những lương thực lành mạnh. Người đưa ta đến những đồng cỏ non, đến những giòng suối trong. Lương thực Người mang đến, đó là Lời Chúa, là Mình Máu Thánh Chúa, là Thánh ý Chúa Cha. Những lương thực ấy sẽ cho ta được sống và sống dồi dào.

Tình yêu của Đức Giêsu là tình yêu hy sinh. Đây chính là dấu chỉ chắc chắn nhất của một tình yêu. Càng yêu mến nhiều càng sẵn sàng hy sinh nhiều. Yêu đến sẵn sàng hy sinh mạng sống là một tình yêu cao cả không có gì sánh được. Đức Giêsu đã xác nhận điều ấy khi Người nói: “Không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người dám hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu”(Ga 15,13). Chính Người đã thực hiện điều ấy. Người là Mục tử nhân lành sẵn sàng liều mạng, một mình chống lại sói dữ để bảo vệ đoàn chiên. Người đã tự hiến mạng sống vì ta. Người đã chấp nhận chết đi để ta được sống.

Hạnh phúc cho ta được là đoàn chiên của Người. Ta được an ủi vì Người hiểu ta. Ta an tâm vì Người hằng quan tâm chăm sóc ta. Ta sung sướng vì Người yêu thương đến nỗi chết vì ta.

Người muốn ta chia sẻ hạnh phúc ấy cho mọi người. Người muốn ta lớn mạnh để đến lượt ta, chính ta trở thành mục tử nhân lành theo gương Người. Cha mẹ là mục tử của con cái. Thày cô giáo là mục tử của học sinh. Giám đốc là mục tử của công nhân. Y bác sĩ là mục tử của bệnh nhân. Anh chị lớn là mục tử của các em nhỏ.

Nhưng đặc biệt hơn hết, Người muốn có những người tiếp tục công việc của Người, chăm sóc đời sống tâm linh nhân loại. Chính vì thế, Giáo Hội dành ngày hôm nay để cầu nguyện cho ơn kêu gọi làm linh mục. Nhìn tình hình chung trên toàn thế giới, còn thiếu rất nhiều linh mục. Giáo dân cần linh mục như bệnh nhân cần bác sĩ. Giáo dân cần linh mục như học sinh cần thầy cô giáo. Giáo dân cần linh mục như một người bạn sẵn sàng cảm thông, chia sẻ vui buồn trong đời sống và như một người bạn đồng hành giúp đỡ trong cuộc hành trình tiến về đời sau.

Hãy cầu nguyện cho có nhiều thanh niên sẵn sàng hiến thân làm linh mục. Hãy khuyến khích con cháu dâng mình cho Chúa, làm linh mục để phục vụ anh em. Nhất là hãy cầu nguyện cho các linh mục được trở nên những mục tử như Đức Giêsu, vị Mục Tử nhân lành, biết yêu thương phục vụ đoàn chiên, hiểu biết tâm tư tình cảm của từng người, quan tâm chăm sóc từng con chiên và sẵn sàng hy sinh bản thân vì lợi ích của đoàn chiên.

Cầu nguyện:

Lạy Đức Giêsu, Mục Tử nhân lành, xin hãy ban cho chúng con nhiều mục tử tốt lành theo gương Chúa. Xin biến chúng con thành những mục tử tốt lành trong gia đình, trong khu phố, trong xã hội. Amen.

 

36. Mục tử tốt lành

Hình ảnh vị mục tử nhân lành được tiên tri Edêkiel mô tả trong Thánh Kinh như sau: "Ta sẽ tìm kiếm chiên của Ta và sẽ chăm nom đến chúng. Ta sẽ tìm kiếm con chiên lạc mất; băng bó vết thương cuả con chiên bị thương tích, săn sóc những con chiên đau yếu... Ta sẽ cho chỗi dậy một mục tử duy nhất. Đó là Đavít tôi tớ Ta. Chính Ngài sẽ chăn dắt chúng, sẽ là mục tử của chúng" (Ed 34, 2-23).

Những điều Edêkiel mô tả trên đây được ứng nghiệm nơi Chúa Giêsu, vị Mục Tử tối cao. Chúa Giêsu thuộc dòng dõi Vua Đavít, người xuất hiện để đem lại bình an hạnh phúc cho nhân loại, trong ngày Người sinh ra các thiên thần đã ca hát "Vinh danh Thiên Chúa trên trời, Bình an dưới thế cho loài người Chúa thương"; khi sống lại và hiện ra với các môn đệ Chuá luôn ban "bình an" cho các ông. Trong những năm giảng dạy, Chúa Giêsu giới thiệu: "Ta là mục tử tốt lành, Ta biết các chiên Ta và các chiên Ta biết Ta".

Quả thực, Chúa không chỉ giảng dạy, kêu gọi người Do thái "công chính" mà còn đến với dân ngoại, đến với người tội lỗi. Chúa đến với người phụ nữ Samari bên bờ giếng Giacóp (Ga 4, 7-30) để hướng chị đến Nước Hằng Sống, uống vào sẽ không còn khát nữa. Người Do thái tỏ thái độ khinh bỉ và thù nghịch đối với người Samari, coi họ là một dân hỗn tạp về chủng tộc, rối đạo và ly giáo, còn Chúa Giêsu thì đến với họ để quy tụ họ lại trong đàn chiên của Chúa.

Chúa đến nhà dùng bữa và kêu gọi Matthêu (Mt 9, 10-13) và Giakêu (Lc 19, 1-10), người Do thái không tiếp xúc với người thu thuế tội lỗi như Matthêu và Giakêu, vì sợ mắc ô uế và bị giới lãnh đạo khiển trách. Chúa Giêsu đến với họ, vì Ngài đến để "tìm kiếm và cứu những gì đã mất". (Lc 19, 10)

Chúa Giêsu không chỉ chữa bệnh và cứu sống những người Do thái mà còn cho người ngoại nữa. Chúa Giêsu đã từng chữa bệnh và cứu sống người đầy tớ thân tín của viên đại đội trưởng người Rôma (Lc 7, 1-10), Chúa Giêsu còn chữa lành cho đứa con gái bị quỷ ám của người đàn bà ngoại giáo người Canaan (Mt 15, 21-28).

Là Mục Tử tốt lành Chúa Giêsu đã rảo qua mọi nẻo đường, để tìm kiếm con chiên đã mất, để băng bó và chữa lành những con chiên bị thương, đau yếu như lời mô tả của tiên tri Edêkiel. Tương quan giữa mục tử và con chiên là tương quan vô cùng thân thiết Ta biết chúng và chúng nghe tiếng Ta; tiếng nói, âm giọng của mỗi người mỗi khác, nhưng đối với những người thân quen, ta chỉ nghe tiếng nói thôi, không cần thấy ngươì, thì ta đã biết là ai rồi. Các bạn trẻ và những người yêu nhạc, chỉ cần nghe tiếng hát thôi, không cần thấy người, thì đã biết là ca sĩ nào hát rồi. Đó là do mối thân quen, hay một sự quan tâm đặc biệt, hoặc tiếp xúc thường xuyên mà ta có được, để dễ dàng nhận ra tiếng nói của họ.

Chúa Giêsu là mục tử tốt lành, không những có một tương quan vô cùng thân thiết với con chiên mà còn "thí mạng sống vì đoàn chiên", để bảo vệ đoàn chiên khỏi nguy hiểm. Mạng sống của người mục tử thì cao quý hơn mạng sống của con chiên, vậy mà người mục tử phải thí mạng sống quý giá của mình để đoàn chiên được an lành; chỉ có một tình yêu mạnh mẽ mới có thể làm được như thế, chỉ có một lòng yêu mến chân thành mới có thể làm được như thế! Lòng thương xót của Chúa quá bao la, Ngài không để hư mất những gì Ngài đã làm nên, cho dù nó nhỏ nhoi bé mọn thế nào. Điều đó được diễn tả trong câu chuyện mà Chúa Giêsu nói với người Do thái: "người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia lại ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất? Tìm được rồi, người ấy mừng rở vác chiên lên vai. Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại và nói: 'Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó" (Lc 15, 4-6). Hoặc "người đàn bà nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được? Tìm được rồi bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại và nói: 'Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã mất". (Lc 15, 8-9)

Thật vô lý đối với chúng ta phải không? bỏ chín mươi chín để tìm một, vất vả tìm được một đồng, sau đó lại tổ chức tiệc mừng, (chắc cũng phải mất mấy đồng!) Đúng là chẳng biết tính toán gì cả? Nhưng nỗi lòng của Chúa là thế đó: Ngài luôn động lòng trắc ẩn, tiếc xót, Ngài không đành lòng để trượt mất một linh hồn nào cả, không hề tính toán thiệt hơn, miễn sao tìm lại được vì "giữa triều thần Thiên Chúa, ai nấy sẽ vui mừng vì một người tội lỗi ăn năn sám hối" (Lc 15, 10). Nỗi của Chúa là thế đó, Mục tử nhân lành là thế đó!

Chúa Giêsu là vị mục tử tối cao, Ngài cũng cho xuất hiện trong Hội Thánh nhiều vị mục tử để chăm sóc đoàn chiên của Chúa. Đức Giáo Hoàng, các Đức Giám mục, các Linh mục được gọi là các mục tử có nhiệm vụ chăm sóc đoàn chiên được giao phó cho mình. Nhìn rộng hơn một chút những ai được trao phó cho một nhiệm vụ nào đó, để chăm sóc cho một nhóm người nào đó cũng được coi là mục tử. Như vậy mọi người chúng ta đều được tham gia vào sứ vụ mục tử của Chúa Giêsu. Người cha, người mẹ trong gia đình, những thầy cô giáo cũng có nhiệm vụ chăm sóc, dạy dỗ và trở nên mục tử cho những người mình có nhiệm vụ phục vụ.

Chúa Giêsu là Mục tử duy nhất tối cao và gương mẫu. Các mục tử khác chỉ là phụ tá, giúp chăn dắt đoàn chiên của Ngài. Những ai đã được trao nhiệm vụ hãy tận tâm, tận lực chu toàn theo gương vị mục tử tối cao, dám thí mạng sống để đoàn chiên được an lành và tăng trưởng mọi mặt. Ngày nay, Chúa Giêsu vẫn cần các bạn trẻ dấn thân để trở thành mục tử chăm sóc đoàn chiên trong Hội Thánh.

Chúng ta hãy cầu nguyện cho các mục tử trong Hội Thánh và cho tất cả những người làm cha mẹ trong gia đình, cho các thầy cô giáo, để mọi người chu toàn tốt nhiệm vụ của mình. Đồng thời chúng ta cũng cầu xin Chúa cho có thêm nhiều vị mục tử tốt lành, biết tận tụy chăm lo cho đoàn chiên của Chúa cách vô vị lợi theo gương Chúa Giêsu, vị mục tử tốt lành. Amen.

 

37. Người mục tử.

Hình ảnh người mục tử là một hình ảnh rất quen thuộc đối với dân Do Thái và đã được Kinh Thánh sử dụng nhiều lần.

Thực vậy, tiên tri Egiêkien đã mô tả Đấng Thiên Sai với vóc dáng của một người mục tử. Còn Chúa Giêsu, khi nhìn thấy đám đông đi theo, Ngài đã thực sự xúc động và nói:

- Ta thương đám dân này, vì họ bơ vơ tất tưởi như đàn chiên không người chăn dắt.

Nhất là qua đoạn tin mừng hôm nay, Ngài đã nhấn mạnh chính Ngài là người mục tử nhân lành.

Theo thói quen lúc bấy giờ, thì khi chiều xuống, những người mục tử lùa đàn chiên của mình tới một nơi chung để nghỉ qua đêm. Nơi này thường có hàng rào bao bọc và một cửa ra vào, để người ta có thể kiểm soát một cách dễ dàng.

Ban đêm, người ta thay phiên nhau canh giữ đàn chiên. Ban sáng, các mục tử đến tìm đàn chiên của mình. Họ đứng ở cửa và lên tiếng kêu. Đàn chiên nghe tiếng họ và bước theo họ. Các mục tử khác cũng lần lượt làm như vậy và dẫn đàn chiên tới đồng cỏ.

Hình ảnh so sánh thật rõ ràng và trong sáng. Chúa Giêsu là người mục tử nhân lành. Ngài vừa đi đầu, vừa chỉ đường, để dẫn đàn chiên tới đồng cỏ xanh, cũng như tới nguồn suối mát.

Là người tín hữu, chúng ta phải bước theo Ngài, cũng như phải noi gương bắt chước Ngài. Ngài nhận biết mỗi người chúng ta, nhưng đồng thời mỗi người chúng ta cũng phải nhận biết Ngài. Đây không phải chỉ là một sự nhận biết xuất phát từ trí khôn, mà còn phải xuất phát từ trái tim, từ cõi lòng, hay nói cách khác từ tình yêu. Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta, thì bây giờ đến lượt chúng ta, chúng ta cũng phải yêu thương Ngài.

Tuy nhiên, trong sự so sánh này có một vài điểm khác thường, được Chúa Giêsu sử dụng để làm nổi bật tình thương của Ngài đối với chúng ta.

Điểm thứ nhất, đó là người mục tử sẵn sàng chiến đấu để bảo vệ đàn chiên trước sự tấn công của sói rừng. Nhưng chết để bảo vệ đàn chiên thì quả thật là hơi hiếm. Người mục tử trong phúc âm không phải chỉ bảo vệ sự sống của đàn chiên, mà còn hiến mạng sống mình vì đàn chiên. Chính nhờ sự hiến mạng sống này, mà chúng ta có được kho tàng ơn cứu độ.

Điểm thứ hai đó là người mục tử gọi tên từng con chiên. Về điểm này, chính Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ:

- Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con và sai các con đi để các con sinh nhiều hoa trái và để hoa trái các con tồn tại muôn đời.

Là người tín hữu, chúng ta phải ý thức về ơn gọi của mình. Thực vậy, Chúa Giêsu luôn nói với mỗi người chúng ta:

- Hãy theo Ta.

Nhưng đồng thời, Ngài cũng tôn trọng sự tự do của mỗi người. Nếu ngày xưa, Ngài đã mời gọi người phụ nữ Samaria, cũng như đã mời gọi ông Giakêu ra khỏi quãng đời tăm tối và tội lỗi, thì hôm nay, Ngài cũng vẫn âm thầm mời gọi chúng ta sám hối và hoán cải cuộc đời.

Thế nhưng, không phải chúng ta chỉ trả lời Ngài một lần thay cho tất cả. Lời mời gọi của Ngài không ngừng vang vọng suốt dọc cuộc đời chúng ta. Bởi đó, cuộc đời chính là một cuộc đối thoại liên tục, chính là một sự đáp trả không ngừng trước lời mời gọi ân tình của Chúa.

Điểm thứ ba, đó là người mục tử đi trước và đàn chiên theo sau. Người mục tử không đẩy đàn chiên đi trước, nhưng chính ngài là người đi trước để chỉ đường dẫn lối cho đàn chiên.