CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN- NĂM A
YÊU CHÚA YÊU NGƯỜI- Trích Logos A
Chiều ngày 05-8-2007. Đức Hồng y Jean Marie Lustiger, nguyên Tổng Giám Mục Paris từ trần, hưởng thọ 81 tuổi. Báo Le Figaro đã ca tụng với tựa đề “Một khuôn mặt lớn đã từ trần”. Những người thuộc Tin Lành, Do Thái giáo, Hồi giáo ở Pháp đều đồng thanh ca ngợi công sức của ngài cho việc đối thoại liên tôn để xây dựng cho nền hòa bình thế giới. Đặc biệt, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, với lòng thương tiếc và quí mến đã viết trong bức điện thư chia buồn: “Tôi đã mất đi một người cha, một người anh, và một người bạn”.
“Khuôn mặt vĩ đại”. Phải, vĩ đại vì ngài đã dành trọn cuộc sống cho tình yêu Chúa và yêu con người : Đức Hồng Y Jean Marie Lustiger là một người Do Thái gốc Ba Lan, sinh năm 1926, trở lại Công Giáo lúc 14 tuổi, 2 năm sau, mẹ ngài chết. Năm 20 tuổi, xin vào đại chủng viện trước sự không đồng ý của người em gái, nhất là chịu phản ứng mãnh liệt của người cha Charles, một cuộc xung đột tàn nhẫn, cha ngài đã cắt đứt hết các phương tiện sống, kể cả thẻ lương thực. Ngài tâm sự : “Đó là một sự xung đột đau lòng, hai năm sau cha tôi mới nguôi giận. Hai năm, tôi không dám nhìn mặt cha tôi, tôi lủi thủi sống một mình …”. Rồi đến năm 1954, khi Lustiger được lãnh chức linh mục, cha của ngài không chịu ngồi trên hàng ghế dành riêng mà đứng ở cuối nhà thờ tham dự thánh lễ. Trong chức linh mục, làm tuyên úy các trường đại học. Ngài luôn quan tâm để huấn luyện sinh viên và giới trẻ. Năm 1979 được phong Giám mục, ngài mở chủng viện. Năm 1981, làm Tổng Giám mục Balê và năm 1983 nhận chức Hồng y. Ngài luôn dấn thân cho công việc đào tạo và huấn luyện, ưu tư đối với người nghèo, nhất là tham gia vào việc đối thoại với các tôn giáo để tôn trọng và đoàn kết với nhau.
Cuộc đời của Đức Hồng y Jean Marie Lustiger là một lời chứng để chúng ta hiểu được về lòng yêu Chúa và yêu người.
Yêu Chúa trên hết mọi sự
Nếu nói yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn, thì mẫu gương tuyệt hảo nhất chính là Chúa Giêsu. Chúa Giêsu đã sống trọn vẹn là một người Con yêu dấu và đẹp lòng Chúa Cha mọi đàng. Một cuộc đời ở trần gian, Ngài chỉ lo chu toàn ý Cha trên trời. Một cuộc sống tự hiến và hủy mình ra không để chia sẻ tình yêu và đem sự bình an đến cho nhân loại, qua hy tế Thập giá. “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15, 13).
Bởi vậy, niềm tin của người Kitô hữu được xác định bởi lòng yêu mến Chúa. Phải noi gương Chúa Giêsu, thực hành lời Chúa trong bất cứ lúc nào, để yêu bằng tình yêu tuyệt đối, trên tất cả mọi sự, dám hy sinh từ bỏ tất cả, kể cả mạng sống đời này, để thể hiện mình đã trọn vẹn tín thác vào Chúa. ( bài đọc 2 : 1Tx )
Mỗi ngày chúng ta vẫn thường xuyên với lời cầu nguyện mở đầu : “Lạy Chúa, con yêu mến Chúa”, nhưng cũng lại thường xuyên kèm theo những tư tưởng oán trách Chúa, khi cầu xin mãi điều gì mà không được. Rồi khi gặp những chuyện không vừa ý, nhất là lúc hoạn nạn, khổ đau, lại buồn giận thắc mắc với Chúa : con có làm gì quá đáng đâu mà tại sao con phải thế này. Còn những lúc tâm hồn trống rỗng, thì lại chán nản : Chúa ở đâu, sao con tìm hoài chẳng thấy. Thêm vào đó là những điều kiện với chữ nếu. Nếu Chúa ban cho con điều này, con sẽ làm cho Chúa điều kia, con sẽ sống đạo đức hơn, con sẽ làm việc bác ái nhiều hơn … như thế, thì rõ ràng chúng ta chỉ yêu mến chúng ta hơn là chúng ta yêu mến Chúa.
Như Chúa Giêsu, chúng ta phải yêu mến Chúa bằng một tình yêu toàn vẹn. Tâm tình yêu mến sẽ bao trùm cả cuộc sống, hướng dẫn tư tưởng, là nguyên nhân và động lực cho mọi hành động, để thăng hoa những cộng việc tầm thường, nhỏ mọn hằng ngày. Trong một gia đình, mỗi thành viên khi chu toàn bổn phận vì yêu mến Chúa, họ sẽ là người cha mẫu mực, người mẹ bao dung, người con hiếu thảo, đem lại bầu khí trên thuận dưới hòa, thế mới là gia đình chứng nhân Tin Mừng. Trong cộng đoàn giáo xứ, nếu mọi người cộng tác với nhau vì yêu mến Chúa, thì tránh được óc kỳ thị, bè phái, không hờ hững vô trách nhiệm, và sẽ hăng say trong công việc chung, từ đó dễ dàng xây dựng một cộng đoàn huynh đệ tương thân tương ái lẫn nhau.
Yêu người như Chúa yêu
Tình yêu của chúng ta đối với Chúa phải được thể hiện trong tình thương đối với con người. Đó cũng là cách để minh chứng lòng yêu mến Chúa. Thánh Gioan khẳng định : “Nếu ai nói : Tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối, vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4, 20).
Khi nói tới yêu thương, phải nghĩ ngay đến sự dấn thân phục vụ. Bởi qua sự chân thành phục vụ, chúng ta mới cảm nghiệm được sự đồng cảm, chia sẻ và khích lệ nâng đỡ nhau trong từng cảnh đời cụ thể. Khi chấp nhận nhau, quảng đại và tha thứ cho nhau, chúng ta mới thấm thía được sự yêu thương của Chúa dành cho mỗi người. Lời kinh của Thánh Phanxicô Assisi còn vang vọng : “Chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh, chính khi thứ tha là khi được tha thứ, chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân …”
Yêu như Chúa yêu, để rồi phục vụ mà không so đo tính toán, dấn thân mà không bon chen ích kỷ. Sống chân thành và tôn trọng mọi ngươi. Không ỷ quyền lực để áp bức người dưới, không vì giàu sang mà khinh chê kẻ nghèo (bài đọc 1). Trái lại khi gặp gỡ bất kỳ một ai, chúng ta nhìn thấy Chúa Giêsu đang hiện diện trong họ, để khi phục vụ họ, là ta đang phục vụ chính Chúa.
Chuyện kể rằng, ngày kia, bề trên một đan viện tìm đến một tu sĩ Ấn giáo tại chân núi Hymalaya. Với tất cả ưu tư phiền muộn, vị bề trên trình bày về tình trạng bi đát của tu viện : “Trước kia, tu viện này là một trung tâm Công giáo thu hút rất nhiều khách hành hương, lúc nào nhà nguyện cũng vọng lên tiếng cầu kinh của các tu sĩ và giáo dân từ khắp nơi, thế mà bây giờ gần như một ngôi chùa hoang, trống vắng, chẳng khách thập phương nào lai vãng. Chẳng người trẻ nào đến tu viện. Tu sĩ còn lại sống trong thất vọng, uể oải. Vậy đâu là nguyên nhân? Có phải do tội lỗi nào mà bị Chúa trừng phạt không?”
Vị tu sĩ ôn tồn trả lời : “Cái tội đã và đang xảy ra trong cộng đoàn, đó là tội vô tình”. Tu sĩ giải thích : “Đấng Cứu Thế đã cải trang thành một người đang sống giữa chư vị, nhưng chư vị đã vô tâm không nhận ra Ngài.”
Từ hôm đó, các tu sĩ đều mở to mắt và nhìn kỹ từng anh em, để tìm xem ai là Đấng Cứu Thế. Cộng đoàn chỉ chừng 10 người, vậy ai là Đấng Cứu Thế. Thế là mọi người bắt đầu đối xử với nhau bằng sự kính trọng và chân tình như đang đối xử với Đấng Cứu Thế. Chẳng bao lâu, tình yêu thương huynh đệ, sức sống và niềm vui lại bừng lên với tu viện. Cũng từ đó, khách hành hương bắt đầu tấp nập trở lại để tĩnh tâm, cầu nguyện, người trẻ lại tìm đến, bầu khí lại thánh thiện như xưa.
Nếu mọi người chúng ta đều nhìn nhau và cư xử với nhau như cư xử với Chúa Giêsu, thì thật là hạnh phúc biết bao.
Yêu Chúa, yêu người là hai giới răn, nhưng chỉ là một cuộc sống. Sống yêu thương và phục vụ. Yêu mến Thiên Chúa bằng sự hiến dâng trọn vẹn và tín thác, yêu thương anh em như Chúa đã yêu thương chúng ta. Sự yêu thương giữa con người với nhau chỉ bền vững khi được đặt trên nền tảng vững chắc là tình yêu Thiên Chúa.