Thầy sẽ không để anh em mồ côi, Thầy đến cùng anh em.

Chúa nhật 6 Phục sinh, Năm A

Lời Chúa: Ga 14, 15-21

Khi ấy, Ðức Giêsu nói với các môn đệ rằng: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy. Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Ðấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi. Ðó là Thần Khí sự thật, Ðấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người; còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em.

Thầy sẽ không để anh em mồ côi, Thầy đến cùng anh em. Chẳng bao lâu nữa, thế gian sẽ không còn thấy Thầy. Phần anh em, anh em sẽ được thấy Thầy, vì Thầy sống và anh em cũng sẽ được sống. Ngày đó anh em sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em. Ai có và giữ các điều răn của Thầy, người ấy mới là kẻ yêu mến Thầy. Mà ai yêu mến Thầy, thì sẽ được Cha của Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu mến người ấy, và sẽ tỏ mình ra cho người ấy.”

SUY NIỆM LỜI CHÚA

Vào ngày 02/4/2005, khi tin Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II qua đời được loan ra, số người tràn đến quảng trường thánh Phêrô, Rôma, càng lúc càng đông đảo. Lúc ấy, Đức Tổng giám mục Leonardo Sandri, phụ tá Quốc Vụ Khanh Toà Thánh tiến ra nói với dân chúng : “Chúng ta như đàn chiên mồ côi”.

Quả thực, vào thời điểm ấy, thời gian như ngừng trôi. Toàn thể Giáo Hội như phủ một màu đen tang tóc. Giáo Hội như đàn chiên mồ côi, không người chăn dắt.

Đó cũng là tâm trạng của các môn đệ trong giây phút Chúa Giêsu từ giã các ông để đi vào cuộc tử nạn. Lòng các môn đệ tan nát vì buồn sầu trước cuộc chia ly đầy đau khổ. Nhưng lúc ấy, Chúa Giêsu đã an ủi và làm cho các môn đệ vững tin: “Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi. Thầy sẽ đến với các con”.

Đúng như vậy, Chúa không để cho Giáo Hội như đàn chiên mồ côi, vì thiếu chủ chăn. Ngày 19/4/2005, Chúa ban cho Giáo Hội vị Tân Giáo Hoàng, Đức Bênêđictô XVI, sau 17 ngày vắng bóng vị mục tử trong Giáo Hội.

Ngày 24/4/2005, trong thánh lễ khai mạc sứ vụ mục tử, Đức Giáo Hoàng Bênêđictô đã nhận dây Pallium bằng lông chiên choàng lên vai, một hình ảnh tượng trưng cho vị mục tử đang vác chiên trên vai. Qua vị Tân Giáo Hoàng, Đức Kitô Phục Sinh vẫn tiếp tục đồng hành với Giáo Hội, vẫn tiếp tục hiện diện giữa Giáo Hội bằng Thánh Thần của Ngài.

Quả thực, Chúa Giêsu đã không để cho các môn đệ của Ngài phải mồ côi. Ngài sẽ đến và ở với họ luôn mãi. Nhưng Ngài không đến và ở với họ theo cách bình thường như trước đây. Ngài sẽ hiện diện với một cách thức mới mẻ hoàn toàn. Ngài đến và hiện diện giữa họ bằng Thánh Thần của Ngài : “Thầy sẽ xin Cha và Người sẽ ban cho các con Đấng Phù Trợ khác, để Ngài ở với chúng con luôn mãi”. “Đấng Phù Trợ khác” là chính Chúa Thánh Thần.

Trong suốt cuộc sống tại thế, Chúa Giêsu luôn thao thức và trăn trở mong muốn thực hiện một việc : đó là dẫn đưa các môn đệ bước vào tương giao thân mật giữa Ngài và Thiên Chúa Cha : “Thầy ở trong Cha, các con ở trong Thầy và Thầy ở trong các con”. Đó là tương quan tình yêu thâm sâu nhất : “Ai yêu mến Thầy sẽ được Cha Thầy yêu mến, Thầy sẽ yêu mến người ấy và sẽ tỏ mình ra cho người ấy”.

Quả đúng như thế, trước khi Chúa Giêsu ra đi, Ngài đã bắc nhịp cầu ngang qua dòng sông cách ngăn giữa nhân loại và Thiên Chúa, giữa hữu hình và vô hình. Chính Chúa Thánh Thần đã đóng vai trò của những nhịp cầu thiêng liêng đó :

Chúa Thánh Thần, nhịp cầu chân lý.

Chúa Thánh Thần là “Thần Chân Lý” được sai đến để hiện diện một cách sống động giữa các môn đệ cũng như trong lòng Giáo Hội. Nhưng đáng tiếc thay, sự hiện hiện của Ngài thật âm thầm lặng lẽ, nên thế gian đã lãng quên Ngài. Hay đúng hơn, như lời Chúa đã nói : “Thế gian đã không thể đón nhận, vì thế gian không thấy, cũng chẳng biết được Ngài”.

Chúa Thánh Thần là “Thần Chân Lý” được sai đến để nhắc lại cho các môn đệ những gì mà Chúa đã dạy. Chúa Thánh Thần là ký ức sống động của Giáo Hội, sẽ dẫn đưa Giáo Hội đến sự thật toàn vẹn (Ga 16, 13). Ngài là “nhịp cầu chân lý” cho một thế giới đang khao khát sự thật và niềm tin.

Hôm nay, giữa một xã hội đang bị mãnh lực của đồng tiền lôi cuốn, chúng ta đang bước đi giữa màn sương mù của sự giả trá đang che khuất đường đi. Ta hãy xin Chúa Thánh Thần soi sáng, cho chúng ta luôn đi đúng đường tìm đến với Thiên Chúa là chân lý duy nhất và toàn vẹn.

Chúa Thánh Thần, nhịp cầu tình yêu.

Qua “Thánh Thần tình yêu”, Chúa Giêsu dẫn đưa các môn đệ, cũng như Giáo Hội vào tình yêu vô biên của Thiên Chúa. Chúa Thánh Thần là ngọn lửa yêu mến nung đốt tâm can con người. Ngài sưởi ấm những tâm hồn giá băng, chữa lành những tâm hồn dập nát đau thương.

Chúa Thánh Thần là “nhịp cầu tình yêu” dẫn đưa mọi người bước vào mầu nhiệm tình thương của Thiên Chúa. “Thiên Chúa là tình yêu”, nhưng nếu không có nhịp cầu nối liền giữa “giới hạn” và “vĩnh cửu”, thì con người không thể gặp gỡ được tình yêu huyền diệu của Thiên Chúa.

Để đáp lại tình yêu Thiên Chúa và để chứng tỏ chúng ta yêu mến Chúa, chúng ta phải giữ giới răn Chúa, và tuân giữ lời Chúa dạy : “Nếu các con yêu mến Thầy, thì hãy giữ giới răn Thầy”. Chúa còn xác quyết mạnh mẽ hơn : “Nếu ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy và Chúng Ta sẽ đến và ở trong người ấy” (Ga 14, 23).

Chúa Thánh Thần sẽ lấy tất cả mọi sự nơi Chúa Giêsu mà truyền lại cho chúng ta (Ga 16, 14). Ngài sẽ dạy cho ta biết tuân giữ giới răn và Lời của Chúa.

Chúa Thánh Thần, nhịp cầu sự sống.

Qua “Thánh Thần sự sống”, Chúa Giêsu còn đưa các môn đệ và Giáo Hội vào sự sống viên mãn của Chúa Cha. Chúa Thánh Thần mở ra cánh cửa sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa trong sự kết hiệp mật thiết và sâu thẳm : như Cha ở trong Chúa Con và như Chúa Con ở trong Chúa Cha : chúng ta sẽ được ở trong sự sống mầu nhiệm của Thiên Chúa Ba Ngôi.

Chúa Thánh Thần là “nhịp cầu sự sống” đưa ta vào sự hiệp thông trọn vẹn với Thiên Chúa Ba Ngôi : Chúa Giêsu ở trong chúng ta, ta ở trong Chúa Giêsu, như vậy, ta cũng ở trong Chúa Cha. Và Chúa Giêsu ở trong ta, như thế, Chúa Cha cũng ở trong ta. Chính trong sự hiệp thông sâu xa đó mà ta lãnh nhận được sự sống sung mãn của Thiên Chúa.

– Chúa Thánh Thần không những là nhịp cầu đưa ta vào đời sống của Ba Ngôi Thiên Chúa, nhưng còn là nhịp cầu để Thiên Chúa đến với con người. Ngài đến để đem cho họ ánh sáng chân lý, hương vị tình yêu và sức sống dồi dào.

– Với lòng nhiệt tâm rao giảng Đức Kitô cho muôn dân, các Tông Đồ ngày xưa đã bắc những nhịp cầu thiêng liêng ấy cho Chúa đến với những tâm hồn chưa nhận biết Chúa. Sách Tông Đồ Công Vụ hôm nay đã thuật lại : Tông Đồ Philipphê đã rao giảng Tin Mừng Đức Kitô cho dân Samaria ngoại giáo. Họ đã đón nhận lời Thiên Chúa và nhận lãnh Thánh Thần.

– Hôm nay, chúng ta cũng hãy bắc những nhịp cầu đến với những tâm hồn chưa được niềm tin chiếu soi. Nhờ những nhịp cầu thiêng liêng đó, ta có thể tỏa ánh sáng chân lý, khơi lên ngọn lửa tình yêu, và đem đến cho họ sức sống thần linh của Thiên Chúa.

– Đức Kitô phục sinh vẫn tiếp tục hiện diện bằng Thánh Thần của Ngài ở giữa chúng ta và trong lòng Giáo Hội. Thế gian không thấy Chúa, nhưng ta thấy Chúa và Chúa vẫn sống trong chúng ta bằng sức sống vừa mãnh liệt vừa trường tồn. “Ngài đã chết theo thể xác, nhưng đã nhờ Thánh Linh mà sống lại” (Bài đọc II, trích thư 1Pr). Ngài đã ra đi nhưng vẫn ở lại mãi với chúng ta.

Vào ngày 08/4/2005, thánh lễ an táng Đức Thánh Cha Gioan Phalô II đã được cử hành long trọng tại Rôma. Cũng trong ngày hôm ấy, ở Ba Lan, dân chúng đã tụ tập trong đền thờ Đức Bà tại Wadowice, nơi Đức Thánh Cha đã được rửa tội. Họ cử hành thánh lễ cầu nguyện cho ngài một cách trọng thể và đầy ấn tượng !

Trong nhà thờ, trên cung thánh, người ta đặt một chiếc ghế trống phủ cờ Vatican với dải khăn đen. Đó là chiếc ghế Đức Thánh Cha đã ngồi khi ngài về thăm quê hương năm 1999.

Chiếc ghế trống nói lên sự vắng mặt của người cha yêu dấu.

Chiếc ghế trống cũng nói lên rằng : Giáo Hội đang thiếu vắng vị chủ chăn.

Tuy nhiên, dù ngai tòa Phêrô bỏ trống, nhưng Chúa Thánh Thần không vắng mặt. Ngài vẫn hiện diện trong thầm lặng nhưng tràn đầy và thật mãnh liệt. Ngài tiếp tục làm việc và canh tân Giáo Hội với một sức sống luôn luôn mới mẻ, mới như khuôn mặt vừa uyên bác vừa khả ái của vị Tân Giáo Hoàng.

Trích Logos A