Giữ xác Đông lạnh là một dịch vụ đang thu hút nhiều sự quan tâm của không ít người có ước mơ cải tử hoàn sinh. Phương pháp này sử dụng các thiết bị đặc biệt gây chết lâm sàng rồi bảo quản con người trong điều kiện lạnh, chờ đợi được hồi sinh nhờ những tiến bộ vượt bậc của y học trong tương lai. Ở bang Arizona của Mỹ, hiện nay đã có gần 1.000 người dám bỏ ra khoảng 200.000 USD đăng ký tham gia dịch vụ này.
Hy vọng được hồi sinh sau khi chết dường như là hy vọng muôn thưở của con người, xuất hiện dưới nhiều hình thức và cách biểu lộ khác nhau, dù đó là người thuộc tôn giáo nào, thậm chí cả những người không tin vào tôn giáo. Không phải đến bây giờ người ta mới có ý tưởng giữ thân xác chờ ngày sống lại. Ngay từ thời Ai Cập cổ đại cách đây mấy ngàn năm, người ta đã dùng phương pháp ướp xác cũng cho hy vọng này. Trong những cảnh phim Tàu, chúng ta cũng không hiếm khi bắt gặp những câu thề bồi kiếp sau sẽ nên vợ nên chồng của những cặp tình nhân không đến được với nhau, kể cả những mối thù truyền kiếp cũng hẹn đến kiếp sau giải quyết. Như thế, dù khác nhau về về tôn giáo, vị trí địa lý, thời hiện đại hay thưở ban sơ, người ta cũng không thể phủ nhận một ước muốn, một hy vọng vào tương lai sau khi chết dù có khác chăng là ở quan niệm về viễn cảnh cuộc sống bên kia của họ. Cụ Nguyễn Du từng nói: “thác là thể phách, còn là tinh anh”. Nghĩa là người ta chỉ chết về phần thể xác nhưng phần linh thiêng nơi con người sẽ sống mãi, để hưởng hạnh phúc hoặc để chịu án phạt, tùy thuộc vào đời sống của họ.
Vào thời Chúa Giêsu, giới lãnh đạo Do thái chia thành nhiều nhóm khác nhau. Liên quan đến sự sống lại, số người thuộc nhóm Biệt phái thì tin rằng cuộc sống sau khi chết cũng giống như cuộc sống trước đó trên trần gian này, nghĩa là con người cũng ăn uống, buôn bán, sống đời vợ chồng... Còn nhóm Sa-đốc thì chủ trương không tin vào cuộc sống đời sau. Đối với họ, chết là hết, hay nói cách khác:“chó chết hết chuyện”. Những người thuộc phái Sađốc nhất quyết từ chối không tin vào sự sống lại từ cõi chết. Bởi vì, theo họ, tín lý này không thuộc về phần mặc khải được truyền lại cho họ từ Môisen. Để giễu cợt niềm tin vào sự sống lại nơi kẻ chết, các người Sa-đốc đã vẽ nên một câu chuyện giả tưởng về trường hợp bảy anh em cùng lấy một người đàn bà và hỏi chúa Giê-su: khi sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ của ai? Họ đã khéo léo đá quả bóng này về Chúa Giê-su và chờ đợi!
Thật không may cho những nhà Sa-đốc thông thái. Vì những gì họ tưởng tượng ra trong câu chuyện này chẳng có ý nghĩa gì với cuộc sống mai hậu trên thiên đàng cả. Lối nghĩ của họ vẫn còn quá thiển cận, chật hẹp, lè tè dưới mặt đất, chỉ nghĩ được những chuyện dưới đất. Chúa Giêsu khẳng định rằng: cuộc sống phục sinh thì hoàn toàn được biến đổi, không giống cuộc sống trên trần gian này như người Sa-đốc tưởng nghĩ. Do đó, mọi tương quan giữa con người với nhau cũng sẽ được biến đổi và hòa tan trong tương quan tình yêu thương của Thiên Chúa. Vì thế, mọi cách diễn tả và biểu lộ trong các liên hệ cuộc sống trần gian khi đó không còn ý nghĩa nữa. Trong sự sống đó, bận tâm duy nhất của người ta là việc phụng sự và ngợi khen Chúa như các thiên thần, chứ không phải là mối bận tâm theo kiểu phàm tục. Chúa Giê-su đã giúp họ nhận ra rằng: cuộc sống của con người không kết thúc với cái chết của thân xác trên trần gian này. Sau khi chết, thân xác và linh hồn con người mới bắt đầu cuộc sống tràn đầy hạnh phúc, một cuộc sống phục sinh, một cuộc sống hoàn toàn biến đổi. Chính sự sống lại của Chúa Giê-su là câu trả lời cho lời hứa này.
Là người theo Chúa, chúng ta tin có sự sống lại, chúng ta vẫn thường tuyên xưng lại niềm tin đó mỗi lúc đọc kinh tin kính, nhưng thử hỏi có bao giờ ta dành thời gian để suy tư về niềm tin của chúng ta chưa? Dường như chúng ta vẫn còn khá hời hợt về những điều mà chúng ta tin, để rồi những lúc gặp khó khăn, đau khổ, thất vọng trong cuộc sống ta lại càng thấy mù mịt hơn về cuộc sống mai hậu. Trong một xã hội chủ trương lối sống vô thần của thứ Triết Mác duy vật, không ít người chịu ảnh hưởng bởi lối suy nghĩ vật chất, thực dụng, lừa dối và thiếu ý nghĩa này. Liệu chúng ta có đủ khôn ngoan, tỉnh táo và can đảm để sống niềm tin của mình một cách xác tín trong xã hội đó không?
Y khoa có đủ tiến bộ đủ để hồi sinh người chết hay đó chỉ là một ước tính vu vơ, một trò chơi vô bổ? Có lẽ chúng ta chẳng cần mất thời gian để trả lời cho những câu hỏi này, bởi vì nó cũng không đi xa hơn mấy so với những câu hỏi mà nhóm Sa-đốc đã hỏi Chúa Giê-su cách đây 2000 năm. Câu hỏi mà chúng ta cần đặt ra lúc này là liệu chúng ta có đức tin đủ mạnh không và sự sống lại của Chúa có ý nghĩa gì với chúng ta?
Xin Chúa gìn giữ và gia tăng đức tin cho con, cho con biết kiên trì và hy vọng vào cuộc sống vĩnh cửu mai sau mà Chúa đã hứa, cho con nhớ lại lời Chúa dạy hôm nay trong mỗi ngày con sống: “Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là của kẻ sống, vì mọi người đều sống cho Chúa".
Công Văn, OH