Chân dung kẻ phản bội

Bức tranh “Bữa ăn tối cuối cùng” là một tác phẩm kinh điển rất nổi tiếng của danh họa Leonardo Da Vinci. Tác phẩm này ra đời sau 7 năm – thời gian mà bức họa này được hoàn tất. Khi bắt đầu bức tranh, để vẽ Chúa Giê-su, ông đã chọn giữa hàng trăm ngàn người để lấy một gương mặt hoàn hảo làm hình mẫu. Trong khoảng thời gian sau đó, ông lần lượt hoàn thành hình ảnh của 11 vị tông đồ. Tuy nhiên, còn 1 người cuối cùng vẫn chưa được vẽ, đó chính là kẻ phản bội: Judas Iscariot. Cuối cùng, sau hơn 6 năm tìm kiếm, ông đã tìm thấy hình mẫu của Judas tại nhà ngục của Roma. Hắn tỏ ra đầy đủ với một mẫu người đê tiện, hèn hạ, bẩn thỉu, nham hiểm và thô bỉ, thích hợp để lột tả cái bộ dạng khốn nạn của Judas. Sau 6 tháng ròng rã để vẽ Judas, bức tranh đã được hoàn thành, cũng là lúc tên tử tù phải bị đưa đi hành quyết. Lúc này, hắn khóc lóc lao đến Leonardo Da Vinci và cho ông biết rằng: hắn chính là người thanh niên mà 7 năm trước ông đã chọn làm hình tượng cho Chúa Jesus.

Thật không thể tin được. Một hình tượng hoàn hảo đã trở thành kẻ khốn nạn!

Sông sâu dễ dò nhưng lòng người khó đoán, chẳng ai nắm bắt được sự đổi thay nơi lòng dạ của kẻ khác. Ngay cả chính mình nhiều khi cũng chẳng biết được mình đã đổi thay như thế cho đến một lúc nào đó bất chợt giật mình nhìn lại thấy đời đã đi quá xa. Câu tục ngữ “gần đèn thì sáng” có lẽ không đúng mấy, ít là trong trường hợp của Judas Iscariot. Hắn đã cùng ăn một bàn, uống một chén với Chúa Giê-su, được nghe Ngài giảng dạy và tỏ lòng thương yêu hắn, thế mà lòng hắn cũng chẳng thấm được chút đỉnh nào.

Trong bữa ăn cuối cùng, Chúa Giê-su báo trước về giờ tử nạn đã đến. Trước lúc chịu khổ hình, Người còn thiết lập bí tích Thánh Thể để ở lại với con người trong bí tích tình yêu ấy. Cũng trong chính bữa Tiệc ly đó, Chúa Giê-su đã cúi mình xuống, đảm nhận vai trò của một tôi tớ để rửa chân cho các học trò của mình. Ngài không nại đến vị thế của Con Thiên Chúa để bắt người khác phải phục tùng, cũng không đóng vai một người thầy để phán dạy. Nhưng Ngài đóng vai là một tôi tớ đúng nghĩa. Ngài lấy tình yêu để phủ lấp những toan tính của người môn đệ biến chất, Ngài ân cần làm công việc rửa chân cho hết thảy các học trò, và cũng không loại trừ Giu-đa khi hắn đã tỏ rõ bộ mặt đểu cáng của tên phản bội. Ngài cũng không từ chối đôi bàn chân xấu xí đã nhiều lần đi đêm với các thượng tế, bàn chân tìm đến những cuộc mặc cả với cái chết của thầy mình.  

Với lòng yêu thương, Chúa Giê-su cũng đã không vạch mặt Giu-đa trước các môn đệ, Ngài vẫn hết sức tế nhị để trao cho Giu-đa một cơ hội hoán cải, thế nhưng hắn vẫn giữ một bộ mặt lạnh lùng không cảm xúc. Không những thế hắn còn mang đầy sự giả tạo khi hỏi Chúa cách trơ tráo: “chẳng lẽ con sao?”. Không dừng lại đó, trong đêm bị trao nộp, hắn đã dùng cái hôn để quân lính nhận diện ra Ngài. Cử chỉ yêu thương đã bị hắn biến thành hành vi tội lỗi, của sự nham nhở và đểu cáng nhất. Cho đến cuối cùng, hắn vẫn giữ sự chai lì của một tên phản bội. Ta cũng hình dung thấy cái nhếch mép bí hiểm, mãn nguyện sau phi vụ làm ăn trót lọt với 30 đồng bạc bỏ thêm vào túi tiền hằng ngày hắn vẫn cầm trên tay. Có lẽ hắn đã hết thuốc chữa, không còn khả năng cứu vãn!.

Tiền hay quyền đã làm Giu-đa mờ mắt? Hắn bán Chúa cho bõ tức vì suốt mấy năm theo Chúa uổng công, hay hắn bán vì số tiền 30 đồng bạc? Có lẽ cả hai. Đối với một kẻ nham hiểm như hắn, đã không đạt được mục đích thì chuyện gì hắn cũng có thể làm.

Nói tới sự khốn nạn của Giu-đa, tôi cũng không quên sự khốn nạn của tôi. Vì thấp thoáng trong mọi chọn lựa, vẫn ẩn nấp đâu đó những ý đồ đen tối. Trong tôi vẫn bị giằng xé giữa một bên là ánh sáng của yêu thương, của sự thật và nửa kia là bóng tối của lợi nhuận, của tham vọng, ích kỷ và chiếm đoạt. Đâu đó vẫn thấp thoáng sự tính toán bủn xỉn, của vẻ mặt lạnh lùng, tâm hồn khép kín và trái tim đã hóa đá, vô cảm.

Trong tuần Tam nhật thánh, chúng ta cần dành nhiều thời gian hơn để đồng hành cùng cuộc khổ nạn của Chúa. Có lẽ Chúa không cần ta phải làm một việc to tát và ấn tượng, nhưng Ngài cần ta ở lại với Ngài, để ta nghiệm được nơi đó dấu chỉ và lệnh truyền của tình yêu. Trước giờ ra đi, Chúa Giê-su đã không kêu gọi một cuộc đảo chính, một cuộc trả đũa nhằm vào những người nhúng tay vào vụ án này, cũng không căn dặn các môn đệ đối phó với những người ngược đãi mình, nhưng Ngài chỉ truyền dạy các ông: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”. Như thế, điều Chúa dạy không phải là hãy nói yêu thương như Thầy đã nói, mà là hãy làm như Thầy đã làm, hãy yêu thương như thầy đã yêu thương, yêu thương đến hiến mạng sống cho người mình yêu, và yêu thương cả những kẻ phản bội mình.

Công Văn, OH