Tiểu sử thánh Ricardo Pampuri OH

 

TUỔI THƠ CỦA THÁNH ERMINIO PAMPURI

Erminio C. Pampuri, được quen gọi hơn là tu huynh Ricardo, đã trải qua quá phần lớn cuộc đời của mình trong một khung cảnh thôn dã miền Bắc nước Ý. Ông cố ngoại của cậu, Antonio Campari, đã là tá điền của mảnh đất bằng phẳng dọc theo con sông tại một thành phố nhỏ tên là Torino. Ông ngoại của Erminio tên là Gioan, đã mua mảnh đất và sống ở đó suốt cuộc đời của mình. Một người con gái của ông tên Angelina, đã kết hôn với Innocente Pampuri. Đôi bạn đã quyết định đi định cư tại thành phố Milano, thủ đô của Miền. Trước tiên, Innocente đã làm việc trong một tiệm, rồi sau đó trong một hãng. Sau mấy năm, gia đình đã rời bỏ thành phố và trở về tỉnh của mình. Họ đã mở một cửa hàng tại Trivolzio, là một thị trấn nhỏ gần Torino.

Erminio là con thứ mười. Cậu sinh ngày 02.8.1897, trong khi gia đình ở Trivolzio. Cha mẹ cậu không giàu có, nhưng ông bà thật quảng đại với người nghèo: Người dân Trivolzio vẫn nhắc lại lòng bác ái của Angelina đối với người nghèo mặc dầu gia đình chỉ có lợi tức thấp. Trong khi mang thai Erminio, bà đã sẵn sàng giúp đỡ các em gái nghèo để có những trang phục trắng mà các em cần trong dịp rước lễ lần đầu. Việc làm này là như bảo chứng ơn phúc cho người con trai Erminio sắp chào đời, cậu đã trở thành người rất có lòng tôn sùng Thánh Thể.

Sau khi sinh người con trai út thứ 11, Engelina mắc bệnh ho lao. Không đầy 1 năm sau, bà đã qua đời ngày 25.3.1900. Người cha của Angelina, là Gioan, đã quyết định đưa cậu bé Erminio về nhà. Vào lúc đó ông Gioan cũng đã goá vợ, và sống với hai người con không lập gia đình là Maria và Carlos, ông này đã là một bác sĩ y khoa. Cả hai người Maria và Carlos đã hành xử như cha mẹ của Erminio.

Carolina, một bà giúp việc mà đã làm việc trong gia đình suốt đời bà; bà đã chăm sóc cậu bé. Carolina thường dạy Erminio đọc kinh tối trước khi đi ngủ. Người ta kể rằng mỗi khi Erminio đọc sai, bà Carolina thường bảo em: “Em đọc lại đúng đi nếu em muốn các thiên thần đưa kinh em đọc về trời”. Lúc đầu Erminio thường không chịu và quay ra lý luận rằng: “Chỉ khi em đọc kinh với bà em mới đọc kinh sai. Điều đó chẳng hề xảy ra khi em đọc kinh một mình”. Bà Caralina đối lại rằng: “Đúng, em đọc sai khi bà đọc với em; còn khi em đọc một mình không có ai để sửa em”. Cuối cùng, Erminio chịu vâng lời một cách vui vẻ.

Đức tin của tất cả các thành viên gia đình nhận con nuôi thật chân thành, chứ không phải chỉ bôi bác bên ngoài mà thôi. Bầu trời Kitô giáo này đã giúp cậu bé đối diện với cái chết của mẹ cậu. Đối với bất cứ ai, thật khó mà chịu nổi sự mất mát của một người thân yêu, huống chi là đối với một em bé mới 3 tuổi. Thường thì con người bị cám dỗ chối bỏ thực tế để tìm ẩn náu trong một thế giới tưởng tượng, điều đó thật nguy hiểm. Một cách tương tự, đức tin có thể giúp con người chấp nhận thực tế và tìm ra ý nghĩa khi phải đối diện với kinh nghiệm đau đớn nhất. Như vậy khi người ta hỏi Erminio về mẹ của cậu, cậu thường bình tĩnh trả lời “mẹ ở trên trời”, đồng thời chỉ tay lên trời và nhìn theo một cách thuyết phục.

Erminio lớn lên trong tình thường mến sâu xa đối với gia đình nuôi cậu, mặc dầu cậu không bao giờ quên được người mẹ quá cố. Lòng thương nhớ mẹ đã khiến cậu cảm nhận một cách bén nhậy hơn về thế giới thiêng liêng, vô hình và vĩnh cửu. Sự cảm nhận thế giới thiêng liêng của cậu càng được tăng cường vì hai người chị của cậu chết sớm ở Torino: Têrêsa năm 1900 và Emilia năm 1903. Hơn nữa cha của cậu đã ở lại Milano, ông đã chết đột xuất trong một tai nạn đường phố vào tháng 7 năm 1907.

Không có trường tiểu học ở Torino. Bởi vậy, Erminio phải đi bộ hơn 4 cây số để đến trường gần nhất. Thầy cô của cậu đã nhắc nhớ Erminio về việc cậu đến đúng giờ, ngay cả khi thời tiết xấu. Erminio là một cậu con trai có hạnh kiểm tốt. Một người bạn tốt, Lu-y, đã nói rằng chẳng hề có chuyện gì rắc rối với cậu trong những ngày tại trường tiểu học.

Ngày 10.7.1904. Cậu được chịu phép thêm sức trong cùng một nhà thờ ở Trivolzio, nơi cậu đã được rửa tội.

Sau khi đã học xong trường tiểu hoc năm 1908, Erminio được trao phó cho người anh cả Fernando, lúc đó đang làm việc ở Milano. Lý do tại sao cậu được gởi đi Milano là bởi vì ở đó học trung học thì dễ hơn.

Erminio rất vui được ở Milano với các anh chị khác, đặc biệt là chị Maria, mà đã định đi tu. Mặc dầu cậu được các anh chị yêu quí nhưng cậu không được chăm sóc như khi ở Torino. Phần lớn thời gian cậu ở một mình và điều này ảnh hưởng đến kết quả học hành ở trường. Trong khi cậu ở Torino, cậu luôn được điểm tốt, đặc biệt là môn toán nhưng ở Milano cậu đã phải thi lại mấy môn.

Mặc dầu có những vấn đề trong việc học hành, cậu đã không bao giờ giảm sút lòng đạo đức sốt sắng và sự hăng say tự sửa các lỗi nhẹ của mình. Bởi vì khi ở Torino cậu hay có dịp ăn bánh ngọt, Erminio đã có khuynh hướng tham ăn. Cậu ý thức điều đó, cho nên khi chị Maria đề nghị cho cậu tiền để trả vé xe đi học, cậu đã từ chối với những lời dí dỏm rằng: “Em e rằng sẽ tiêu xài món tiền đó để ăn bánh ngọt và cuối cùng có thể bị tống cổ ra khỏi xe công cộng”.

ĐI HỌC Ở PAVIA

Cậu Carlos lo ngại vì kết quả học hành không thỏa đáng của Erminio trong năm thứ nhất tại Milano, cho nên năm 1909 cậu Carlos đã gởi Erminio vào trường thánh Augustinô ở Pavia là thủ phủ của tỉnh ở miền Bắc nước Ý, ở đây cậu đã học hết chương trình trung học một cách thoả đáng. Trường đã được Đức Giám Mục địa phương thành lập. Erminio đã được đưa vào nội trú ở trường để tiện việc ăn ở cũng như việc dạy dỗ và khuyên bảo.

Quả thật, trong khi ở trong trường, Erminio lại bắt đầu được điểm tốt. Cậu là một sinh viên có tính hiếu đông và có khuynh hướng dễ đãng trí, nhưng cậu đã duy trì được vị trí của mình trong số các sinh viên xuất sắc của lớp, không phải vì cậu chăm học cho bằng cậu có trí thông minh. Một bạn lớp, Benito Sacondi, nhớ rằng khi mới ở Pavia thì Erminio say mê đọc các sách truyện tiểu thuyết và các sách truyện phiêu lưu hơn là các sách giáo khoa ở trường.

Năm 1912 chị Maria đi sang Ai Cập để vào dòng Soeurs Phan Sinh truyền giáo Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ. Ngày 16.02.1912 chị đã vào nhà tập và đã nhận tên mới trong dòng là Sr. Longina. Erminio lấy làm cảm đông vì ơn gọi của chị và kết quả là đã nẩy sinh trong cậu sự khao khát bắt chước người chị. Một bản viết của Sr. Longina năm 1947 chứng tỏ rằng: “Khi Erminio lên 15 tuổi, em đã viết cho tôi một lá thư bầy tỏ việc em muốn đi tu. Tôi đã can em vì tôi biết em kém sức khoẻ”.

Nhiều lần trong những năm theo sau Erminio đã nghe những điều bàn tán về việc cậu kém sức khoẻ. Cuối cùng những lời bàn tán này đã trở thành sự thật. Nhưng trong khi học ở Pavia, cậu không bao giờ bị bệnh nặng, cho dù bề ngoài cậu không được mạnh khoẻ. Mặc dầu sự lo lắng của người chị không đúng vào lúc đó, nhưng Erminio đã vui vẻ vâng lời. Cậu tiếp tục trao đổi thư từ thường xuyên với người chị.

Sr. Longina đã giữ được 66 lá thư của cậu. Những lá thư này cùng với 80 lá thư của cậu viết cho bạn bè và những người họ hàng đã được xuất bản trong một cuốn sách năm 1955. Đọc cuốn sách này sẽ là chìa khoá hữu hiệu nhất để biết về đời sống nội tâm của cậu và hiểu được bí quyết sự thánh thiện của cậu.

Mặc dầu cậu nghe lời khuyên bỏ qua một bên ý tưởng đi tu, nhưng cậu cảm thấy ước muốn sống đức tin của mình một cách hăng say hơn nữa. Người bạn lớp Benito nhớ lại “Hạnh kiểm trong hai năm đầu thì chỉ trung bình và không vượt trên mức bình thường, nhưng trong hai năm cuối, trong khi học ngành y khoa, cậu đã nổi bật hơn những người khác về lòng đạo đức, hạnh kiểm không chê trách được điều gì, và gương tốt của cậu”.

Cha Roberto, cha linh hướng của trường đã nói: “Cậu học hành thật theo lương tâm đến nỗi cậu luôn là một trong các học sinh giỏi nhất lớp. Cậu thường đều đặn đến thăm tôi vào ban đêm để xưng tội. Cho dù việc này đã trở thành thói quen, nhưng Erminio luôn ý thức rằng đó là một bí tích. Cậu quỳ gối, mắt nhìn lên thánh giá, hai tay chắp lại cầu nguyện, trông cậu có vẻ như một vị thánh nhỏ. Mắt cậu sáng sủa và thanh thản với những con mắt trong sáng phản ảnh sự trong sáng của linh hồn cậu”.

Cậu đã đậu tú tài với bằng khen năm 1916. Bởi vì vào lúc đó nước Ý đã bị lôi cuốn vào đại chiến thứ I, bộ giáo dục đã đề nghị cho sinh viên được chọn thi tốt nghiệp vào cuối lục cá nguyệt thứ nhất để được thi tốt nghiệp trước khi gia nhập quân ngũ. Erminio đã chọn thi tốt nghiệp sớm hơn. Do đó, cậu đã có thời gian để sống với người cậu tại Torino. Trong lúc ở đó cậu đã bày tỏ ước muốn đi vào chủng viện, nhưng người cậu đã khuyên cậu nên nghĩ đến việc ghi tên vào khóa học y khoa.

Thật sự, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II trong tông thư “Salvifici Doloris”, tháng 2 năm 1984, đã nhấn mạnh rằng hoạt đông của một bác sĩ y khoa có thể là một ơn gọi lớn hơn bất cứ nghề nghiệp nào khác. Quả thật, việc hành nghề y sĩ sẽ cung cấp cơ may để mô phỏng việc chữa bệnh của người Samaritanô tốt lành. Bằng cách làm đó, các bác sĩ cụ thể hoá đất nước tình yêu mà Chúa Giêsu đã thiết lập.

Căn cứ vào quan niệm hành nghề y như thế, được chứng minh một cách hùng hồn trong đời sống của người cậu, Erminio đã quyết định ghi tên vào học ngành y khoa tại thành phố Pavia; ở đây cậu sống nội trú trong một nhà mà bà chủ là mẹ của một linh mục.

Ở CHIẾN TRƯỜNG

Người dân đã có những năm tháng cực khổ khi đại chiến thứ I tiếp tục hoành hành tại Châu Âu. Nước Ý lâm chiến năm 1915. Gia đình của Erminio đã có một kinh nghiệm đau khổ: người anh Aquiles bị tử trận vào tháng 7 năm 1916 và Erminio được gửi ra chiến trường vào năm sau.

Khi Erminio đi khám sức khoẻ lần đầu năm 1916, việc cậu được nhận vào quân đội bị hoãn lại 1 năm do sức khoẻ yếu kém. Kết quả là cậu đã có thể theo đều đặn chương trình đại học năm thứ I. Cậu đã được điểm tốt trong tất cả các môn, trừ môn hóa. Bắt đầu từ năm học thứ hai, lần này xét về thể lý cậu được coi như mạnh khoẻ để nhập ngũ và được lệnh đi trình diện làm nghĩa vụ ngày 31.3.1917. Erminio dùng ít ngày còn lại để chuẩn bị thi lại môn hoá, cuối cùng cậu cũng được gắn cho cấp “cai” thuộc trung đội 86 quân y, bởi vì cậu là sinh viên ngành y. Cậu đi huấn luyện tại Milano và ra chiến trường trên miền núi ngày 28.6.1917.

Julio, một bạn lớp trong ngành y, cũng ở trong quân đội với cậu, nhớ rằng trong hành lí ít ỏi cậu mang theo có cuốn “Sách gương phúc Chúa Kitô”. Tập sách nhỏ thiêng liêng quí giá này đã giúp cậu vượt qua sự sầu khổ vì chiến tranh.

Phản ứng của cậu trước những kinh nghiệm buồn, mà cậu đã gặp phải trong một bệnh viện dã chiến, thì thật rõ ràng trong một lá thư gửi cho chị Longina, viết vào tháng 9.1917: “Em đã phục vụ trong một đơn vị cấp cứu tại chiến trường được hai tuần rồi. Thật là một cảnh tượng huỷ hoại khủng khiếp xương thịt của con người khốn khổ. Ôi, những vết thương, những vết rách tan tành, những chân tay dập nát. Trông mong rằng nhờ lòng thương xót của Chúa, sự sầu khổ sẽ sớm, rất sớm chấm dứt”. Ước muốn của cậu đã không được đáp ứng mãi cho đến năm sau. Chẳng bao lâu sau, sau khi cậu viết thư này, trận chiến đã bùng nổ do quân địch tấn công khốc liệt vào tháng 10.1917.

Sự xâm lăng lan ra nhiều điểm dọc theo một trận chiến rất rộng, trải ra trên đỉnh một dãy núi. Ít lâu sau có lệnh cho quân đội Ý phải rút lui tổng quát tức khắc, chuyển toàn bộ chiến tuyến về con sông Tagliamento. Khi lệnh rút lui tới bệnh viên của trận địa Villa Vicentina, mọi người vội vã bỏ đi chỉ trừ “cai” Erminio Pampuri. Cậu đã quyết định cứu vãn tất cả đồ nghề y khoa, bởi vì các đồ ấy luôn hiếm hoi, mà nhu cầu có triển vọng còn lớn hơn trong một tình huống như thế.

Vì không có phương tiện nào khác, Erminio đã xếp tất cả đồ nghề y khoa lên xe của nông trại rồi cột vào cổ bò. Loại xe chuyên chở này thì chậm chạp và nguy hiểm, nhưng Erminio bất chấp. Cậu tiếp tục đi trong hai ngày dưới trời mưa to trước khi tới được mặt trận mới. Cậu bị ướt đẫm và kiệt sức vào lúc mà cuối cùng cậu cũng đã băng qua được sông Tagliamento, ngay trước khi cây cầu Latisana bị sập. Các bạn đã chúc mừng cậu như một người anh hùng, họ vui mừng thấy cậu được an toàn với một ít đồ nghề. Về sau cậu được tặng huy chương đồng vì chí khí anh hùng của cậu.

Đầu năm 1918 Erminio được thăng cấp từ cai lên đội (trung sĩ: sergeant) và được cho về Pavia trong bốn tháng. Thường hay có việc thay quân tại chiến trường. Trong lúc thay quân, chính phủ đã tạo cho binh sĩ cơ may lại tiếp tục việc học hành hầu rút ngắn lịch trình học vấn. Vì được nghỉ phép vào lúc đó, Erminio đã học xong y khoa năm thứ ba với thời gian ngắn ở Pavia.

Sau thời gian khoảng bốn tháng, cậu phải trở lại chiến trường. Lần này cậu làm việc tại bệnh viện chiến trường Malonno cho đến gần cuối năm. Những biến cố chiến tranh đã không ảnh hưởng đến sự thanh thản nội tâm của cậu; điều đó hiện diện trong sự miêu tả thơ mộng hoàn cảnh Malonno trong một lá thư cậu viết cho chị Longina tháng 8.1918. Thật là thanh vắng dưới một thung lũng tuyệt vời nơi mà cái gì cũng đẹp. Tất cả mọi sự từ cánh rừng cây dẻ xanh rì và dày đặc dọc theo sườn núi cho tới xóm nhà nhỏ (barrios) bám vào dốc cao dưới sự che chở dịu dàng của cái nhà thờ màu trắng, tới những mỏm đã chênh vênh mà tia nắng vàng cuối cùng của mặt trời lặn chiếu vào: mọi sự đều nhắc nhở chúng ta về quyền năng của Đấng Tạo Hoá và sự tốt lành vô cùng của Người.

Chiến tranh kết thúc ngày 04.11.1918, nhưng các binh sĩ trẻ được về nhà từng ít một. Erminio vẫn ở lại phục vụ cho tới tháng 6 năm 1920, mặc dầu cậu được hưởng quy chế dễ dãi dành cho các binh sĩ trẻ để có thể tiếp tục việc học hành. Vì lẽ đó, cậu được tham dự các lớp đại học. Hơn nữa, cậu được nghỉ phép sáu tháng năm thứ tư và cả năm thứ năm trong ngành y khoa.

Những gian khổ ở chiến trường, đặc biệt trong lúc tất tưởi rút quân đã gây cho cậu chứng viêm màng phổi ho lao. Cậu đã bình phục khá tốt nhưng không khỏi hẳn vì vào lúc đó không có thuốc men chữa khỏi hẳn chứng ho lao. Nội trong một thập kỳ Erminio đã hao mòn vì chứng bệnh tái phát.

Chứng viêm màng phổi được chính phủ công nhận là hậu quả của việc phục vụ trong quân đội. Cho nên vào tháng 3 năm 1920 cậu được cấp một khoản thù lao nhỏ trong 3 năm, cậu còn có thể được nhận bao lâu sức khoẻ của cậu chưa khả quan. Erminio đã quyết định không xin gia hạn khoản thù lao bởi vì trong khoảng thời gian đó, cậu đã bắt đầu làm việc như một viên chức y tế nông thôn. Cậu nghĩ có một sự mâu thuẫn về mặt luận lý nếu nhận thù lao bồi thường và đồng thời nhận trọn tiền lương, mặc dầu điều đó là điều hợp pháp.

LẤY BẰNG CẤP TỐT NGHIỆP

Trong ba năm cuối y khoa, Erminio được phép tự nguyện làm nhiều giờ thực tập tại viện bệnh lý y khoa. Vị tổng giám đốc, giáo sư Eugenio Morelli, đã đưa ra những lời khuyến nghị hấp dẫn sau đây về việc thực tập cậu đã làm ở đó : “Là một nội trú, cậu rất siêng năng và ân cần học hỏi về bệnh nhân. Cậu thực tập không chỉ trong việc khám bệnh cẩn thận mà còn trong các thí nghiệm cần thiết để theo dõi bệnh nhân đúng về mặt thuốc men. Sự nhận xét nổi bật về Pampuri trong buổi khảo miệng xác nhận cậu là một y sĩ xuất sắc. Tôi có thể đảm bảo rằng Pampuri sẽ là một bác sĩ rất giỏi”.

Lời nhận xét của Đức Giám Mục Pavia, Đức Cha Jose Ballerini còn có tính cách tán thưởng hơn, Ngài nói : “Ở đại học, người thanh niên tài năng đó không đánh mất chút nào đức tin và sự trong sáng của mình. Câu lạc bộ bác sĩ Severino Boczio rất hãnh diện về cái tên Pampuri quí mến, bởi vì qua tấm gương và đời sống công chính của mình bác sĩ lôi cuốn được nhiều thành viên hơn là tất cả các bài giảng khoá và tất cả các phương tiện tuyên truyền khác cộng lại, kể cả các hoạt đông của bản thân tôi, và tôi không hổ thẹn nói lên điều đó”.

Theo ý tôi, cũng quan trọng chứng tá một bạn lớp của Pampuri, bác sĩ Lu-y Bazzoli : “Erminio là một thành viên siêng năng câu lạc bộ công giáo của đại học, cậu không bao giờ sao lãng các việc đạo đức của mình. Cậu cũng rất dấn thân vào hiệp hội thánh Vinh Sơn Đệ Phaolô (Vincent de Paul); hơn nữa, tôi có thể nói cậu ở nhà với hiệp hội nhiều hơn là câu lạc bộ.

Hiệp hội này hoạt động trên khắp thế giới có mục đích cung cấp thực phẩm và quần áo cho người nghèo. Hiển nhiên, hiệp hội dành cho Erminio nhiều tiện lợi hơn để cậu biểu lộ tình thương cho những người thiếu thốn. Tình thương đó cũng là nét nổi bật nhất nơi cậu khi cậu đã trở thành bác sĩ và về sau khi cậu trở thành thầy tu.

Sức mạnh của tình thương này được biểu lộ mãnh liệt nhất trong vụ biểu tình bạo lực của sinh viên, trong đó hai sinh viên bị giết chết. Không ai dám đến gần các thi thể, ngoại trừ Erminio. Cậu bình tĩnh quỳ gối gần 2 nạn nhân, ghi dấu thánh giá trên trán họ rồi điềm nhiên bỏ đi. Các sinh viên nấp đằng sau các cửa sổ để mặc cho Erminio muốn làm gì tuỳ ý, nhưng họ lại ra đánh nhau khi những người khác tìm cách đi vào trong khu vực.

Sự việc cũng cho thấy sự kính trọng các bạn lớp đối với cậu. Bác sĩ Benitô Secondi, một người bạn lớp mà cùng chia sẻ những tình cảm đạo đức của cậu, đã xác nhận điều đó với vẻ duyên dáng.

Bác sĩ khai rằng: “Mấy bạn lớp có tính hài hước thường cố ý kể cho tôi những câu chuyện khôi hài ngượng ngượng (green jokes) bởi vì họ biết tôi lấy làm khó chịu. Tuy nhiên, không bao giờ họ làm điều đó khi Pampuri có mặt, bởi vì họ rất ngưỡng mộ và tôn trọng cậu”.

Ngày 20.3.1921, ba tháng trước khi tốt nghiệp, Erminio đã trở thành thành viên hiệp hội dòng ba thánh Phanxicô tại đền Đức Mẹ ở Canepanôva. Cũng là nhà thờ nơi cậu thường rước lễ hàng ngày trong những ngày cậu theo học ở Pavia. Mục đích việc làm thành viên hiệp hội là để được thánh Phanxicô đặc biệt che chở cho hoạt động y tế tương lai của cậu. Cậu noi theo tính đơn sơ, tính siêu thoát và sự dấn thân tận tình của thánh bổn mạng. Thật là một sự trùng hợp đầy ý nghĩa khi việc phong chân phước cho Erminio được cử hành vào ngày lễ thánh Phanxicô (4.10) năm 1981.

Ngày 2.6.1921 Erminio đã tốt nghiệp ngành y khoa và đậu thủ khoa.

VIÊN CHỨC Y TẾ NÔNG THÔN

Công việc đầu tiên của bác sĩ Erminio Pampuri tạm thời là một viên chức y tế tại vùng nông thôn Vernate. Bởi vì thị xã này ở gần Torino, bác sĩ đã làm hồ sơ xin thường trú. Nhưng vì lí do chính trị, người ta đã dành ưu tiên cho một bác sĩ khác thuộc đảng Mussolini.

May thay, sau một thời gian ngắn vào tháng 9 năm 1921, bác sĩ đã trở thành viên chức y tế tạm thời tại Morimondo và cuối cùng đã đạt được qui chế thường trực trong địa vị của mình. Bác sĩ đã duy trì chức vụ cho tới khi ngài vào dòng các Tu huynh của Thánh Gioan Thiên Chúa.

Thị xã Morimondo cách Torinno 15 cây số. Trong khi ở đó, bác sĩ được cấp cho một căn hộ và chị Rita của bác sĩ, chị sống độc thân, đến ở làm người nội trợ cho bác sĩ.

Tại miền đất Morimondo, có khoảng hai mươi nhà nông thôn hoặc nông trại, mà bác sĩ Pampuri phải dùng xe ngựa (calesa) hoặc chiếc xe đạp để đi thăm khi trời tối. Cả hai phương tiện chuyên trở đều là tặng vật của người cậu Carlos, một bác sĩ y khoa ở Torino.

Để được trang bị tốt hơn mà đối phó với nhiệm vụ của mình, bác sĩ Pampuri đã theo học một khoá tập huấn ở viện khoa sản tại Mangialli và ở viện phụ khoa tại Milano trong kỳ hè 1922, sau đó bác sĩ còn theo một khoá hậu tốt nghiệp cho các viên chức y tế vào mùa xuân năm1923.

Khi ở Morimondo, bác sĩ Pampuri đã không chỉ hoạt động như một viên chức y tế mà còn như một cha linh hướng cho người dân làm việc vất vả tại miền quê. Đức cha Giuse Gornati chứng nhận: “Bác sĩ Pampuri quí mến, khi đi thăm các gia đình không chỉ thi hành khả năng nghề nghiệp mà còn bày tỏ lòng bác ái đáng khâm phục, một sự quan tâm đến các bệnh nhân: khám bệnh miễn phí, giúp đỡ vật chất cho bà con các bệnh nhân, phát thuốc miễn phí và còn cho những người khác nữa”.

Trong các giai thoại chứng tỏ lòng bác ái phi thường của bác sĩ Pampuri, một giai thoại được Sr.Longina trích dẫn như sau: “Một lần kia, một bà cụ già biếu bác sĩ một bọc, tôi mở bọc ra và thấy hai bắp cải gói trong cái khăn quàng cổ. Đó là tất cả những gì bà có và bà biếu bác sĩ để bày tỏ lòng biết ơn. Thật sự, trong một thời gian lâu bà cụ đã bị lở da. Bác sĩ đã bảo thân nhân gội đầu cho bà với dầu gội có chất y dược mà bác sĩ đã kê đơn, mà không ai chịu làm. Khi bác sĩ Pampuri biết được sự dửng dưng của thân nhân bà cụ, chính bác sĩ đã đích thân làm công việc tắm gội cho bà tới khi bà khỏi hẳn. Do đã được quan tâm chăm sóc, bà cụ cảm thấy bắt buộc phải biếu bác sĩ một món quà mà bà cụ có thể làm được. Bà nài ép bác sĩ nhận, nếu bác sĩ không nhận, bà cụ cảm thấy bị xúc phạm”.

Enrico Repossi, một nông dân nghèo, đã đưa ra một chứng tá khác về sự dấn thân ân cần của bác sĩ Pampuri đối với các bệnh nhân. Enrico đã nhắc lại năm 1925 cung cách vị thánh mà trong lúc dịch tả hoành hành, đã đến thăm tôi một ngày tới bốn lần và ban đêm ít nhất là hai lần, và trong lúc bệnh lên cơn, ngài ở bên giường bệnh của tôi cả đêm, mà không dùng chi cả, một tách cà phê cũng không”.

SỰ NHIỆT THÀNH TÔNG ĐỒ

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nêu lên bí quyết đằng sau sự quảng đại phi thường của bác sĩ Pampuri: “Bác sĩ đã đi sâu vào sứ điệp bác ái Tin Mừng dưới ánh sáng của việc suy niệm và cầu nguyện, trải qua nhiều giờ chiêm niệm say sưa trước Mình Thánh Chúa và sau đó cống hiến mình với một sự bén nhạy sâu sắc cho những người đau khổ vì bất cứ lí do gì”.

Quả thật, bác sĩ trải qua nhiều giờ cầu nguyện trong nhà thờ giáo xứ ở gần nhà ngài. Mỗi khi đi thăm bệnh nhân với chiếc xe ngựa (calesa) về nhà, bác sĩ thường đi thẳng vào nhà thờ, còn con ngựa thì tự tìm đường rông vào chuồng. Một người láng giềng, bà Pedretti kể cho chúng tôi rằng: “Nhiều lần bà chị Rita của bác sĩ đã từng nhờ tôi gọi người em ở trong nhà thờ. Tôi đã từng đến động vào vai bác sĩ và nói thì thầm: ‘Thưa bác sĩ bữa ăn tối xong rồi, chị của bác sĩ đang đợi đó’. ‘Một phút nữa tôi sẽ tới’, bác sĩ trả lời ngay. Cái “phút” đó kéo dài một tiếng đồng hồ”.

Những thập kỳ cuối cùng (của thế kỷ 20) người ta đã thấy có một sự tham dự gia tăng của người giáo dân vào các hoạt động của giáo hội. Nhưng trong những năm đầu thế kỷ 20, sự tham gia này chẳng có nhiều. Chúng ta có thể hiểu được người dân Morimondo lấy làm lạ khi thấy viên chức y tế nông thôn mới cống hiến hết thời giờ rảnh rỗi của mình cho nhà thờ của giáo xứ. Bác sĩ đã trở thành cánh tay phải không thể thay thế được của cha sở, đặc biệt trong việc giao tiếp với giới trẻ. Bác sĩ đã thành lập liên đoàn thanh niên công giáo quốc gia và đã trở thành vị chủ tịch đầu tiên của công hội địa phương. Trong công hội, ngài đã thành lập một ban nhạc dưới sự giúp đỡ của cha sở, là người có tài âm nhạc.

Khi đảng phái chính trị phát-xít độc tài tiếp quản bên Ý, năm 1922, người ta bắt đầu hạn chế hoạt động của tất cả các nhóm. Người ta cũng làm như vậy tại Morimondo với nhóm được bác sĩ Pampuri thành lập trong giáo xứ. Bác sĩ không bao giờ tranh luận với họ, mặc dầu hành động của họ không hề làm cho ngài sợ hãi. Tuy nhiên, khi hiệp hội quốc gia của viên chức y tế nông thôn, trở thành phát xít, ngài đã quyết tâm từ chức ngay.

Bọn phát xít dung thứ những hoạt động của bác sĩ Pampuri vì uy tín tinh thần của ngài trong cộng đồng. Nhưng khi ngài rời khỏi Morimondo, họ đã giải tán ban kèn và tịch thu các nhạc cụ mà Pampuri đã mua.

Bác sĩ đã sống một cách đơn giản, chỉ chi tiêu cho những gì thật cần thiết, theo gương Thánh Phanxicô Assisi. Tất cả tiền tiết kiệm của ngài được chia cho người nghèo, cho các sinh hoạt của giáo xứ và cho các nơi truyền giáo. Đôi khi bạn bè hỏi ngài tại sao ngài thường chẳng có tiền bạc gì, ngài quen nói đùa về tiền dâng cúng cho việc truyền giáo : “Tôi gửi tiền tiết kiệm ra nước ngoài để lấy 100% tiền lời”.

Cùng lúc bác sĩ đến Morimondo, thì các cha dòng Tên đã mở một nhà tĩnh tâm cho giáo dân ở Triuggio, không cách xa bao nhiêu. Bác sĩ Pampuri không chỉ đi đến nhà tĩnh tâm hằng năm, mà ngài còn tổ chức một năm hai ba lần cho một nhóm giáo dân đi tĩnh tâm, đặc biệt các thành viên đoàn thanh niên công giáo. Ngài đài thọ cho những người không có khả năng trả chi phí tĩnh tâm.

Sự nhiệt thành tông đồ của ngài thật sống động bởi vì ngài luôn kết hợp với Chúa trong nội tâm, một sự kết hợp được nuôi dưỡng bằng việc cầu nguyện - ngài thường nói với người ta là tràng hạt mân côi là vũ khí đặc biệt của ngài - và việc năng viếng thánh thể. Với việc kết hợp nội tâm với Chúa, tất cả các hoạt động của ngài trở thành lời cầu nguyện và thật vậy ngài từng lặp đi lặp lại “mọt người có thể lập được hàng ngàn công phúc nếu mỗi hoạt động đươc làm một cách vui vẻ và được dâng lên như một kinh nguyện”.

BÁC SĨ PAMPURI – MỘT NGƯỜI BẠN ĐỜI ĐÁNG MONG ƯỚC CÓ ĐƯỢC

Ban đầu lúc bác sĩ đến ở Morimondo, mấy chị em trẻ tuổi nhòm ngó ngài và mong được ngài làm bạn đời, bởi vì ngài là một người đàn ông ngọt ngào, bảnh trai, dễ tiếp xúc, có nghề nghiệp và thuộc về gia đình gia giáo.

Tuy nhiên, khi bác sĩ có vẻ chỉ quan tâm đến nhà thờ và nghề nghiệp của mình, chị em ta đã suy nghĩ rằng có lẽ ngài không phải mẫu người để kết hôn. Đúng vậy, khi Rôsita chị cô giáo trường mẫu giáo, dỗ dành Maria, con gái của ông bán sữa rằng: “Cô và bác sĩ Pampuri có thể xứng đôi vừa lứa”. Maria trả lời ngay: “Em không thích ông ấy bởi vì ông ấy giống như một ông cha”. Dĩ nhiên, không phải tất cả các chị em đều phê phán cứng cỏi như Maria. Thậm chí có một phụ nữ nghĩ rằng ngài là người đàn ông lí tưởng. Cô ấy là con gái một bác sĩ ở cách Morimondo tám cây số, trong thành phố Abbiategrasso. Cô ấy là thành viên liên đoàn phụ nữ công giáo và cũng có lòng nhiệt thành tông đồ như bác sĩ Pampuri. Vào thời đó, việc một bà trực tiếp tỏ tình với một chàng lịch duyệt là điều ngượng, cho nên cô nhờ một bạn thân, Lu-y-si-ta Peretti, lót đường cho cô.

Chúng ta có thể dễ dàng hiểu được ý nghĩ của bác sĩ Pampuri về việc hôn nhân qua một lá thư mà bác sĩ gửi cho một người bạn thân, một đồng liêu từ trường trung học cho tới khoá học y khoa. Lá thư đã được gửi cho người bạn vì anh vương vấn nghiêm trọng vào một mối tình dại dột gây vấn đề cho tương lai.

Bác sĩ Pampuri cảnh giác người bạn về những nguy hiểm của một cuộc hôn nhân bốc đồng, mà có thể dễ dàng đưa tới xung đột, ly cách và bất trung.

Sự cảnh giác này không phải là sản phẩm của một tiên kiến chống lại hôn nhân, như người ta có thể thấy trong nhiều lời ca ngợi lợi ích của “bí tích trọng đại này, mang lại một sự bình an thật thanh thản và một hạnh phúc rất sâu xa trong những thử thách đau đớn nhất trong đời sống”.

 Người ta có thể thấy được nhận xét thú vị nhất trong lá thư mà bác sĩ ca tụng vai trò lý tưởng của người vợ, như một thiên thần an ủi trong những nghịch cảnh của gia đình. Tuy nhiên, ngài mạnh mẽ từ chối khiển trách phái nữ khi xảy ra tình huống khác. Thật sự, theo bác sĩ Pampuri, nếu người đàn ông biết cách cư xử với một phụ nữ đúng cách, thì không bao giờ ông sẽ thấy người phụ nữ là một trở ngại cho sự phát triển tinh thần.

QUA MỘT TÌNH YÊU LỚN HƠN

Từ những lá thư trích dẫn, bác sĩ Pampuri đã đắn đo cân nhắc những hậu quả lợi hại của đời sông hôn nhân. Trên cơ sở này,người ta có thể cho rằng bác sĩ là người cởi mở đối với việc có thể lập gia đình. Tuy nhiên, bác sĩ đã trả lời một cách khác cho lời đề nghị của cô Lu-i-si-ta trong lá thư dưới đây viết vào tháng 8 năm 1926 : “Tôi lấy làm tiếc nhưng tôi không thể nhận lời đề nghị danh dự và mơn trớn cua cô bởi vì tôi đã dứt khoát khước từ hôn nhân, khi tôi cảm thấy mình không có ơn gọi lập gia đình”. Sự khước từ này đã được những lời lẽ của Thánh Phanxicô khích lệ một cách nào đó trong thư gửi cho tín hữu Corintô : “Bạn chưa kết bạn với một người đàn bà ư ? Đừng lo kiếm vợ” (1Cr. 7, 27). Thánh Phaolô có giải thích thêm lý do : “Đàn ông không có vợ thì chuyên lo việc Thiên Chúa; họ tìm cách làm đẹp lòng người. Còn người có vợ thì lo lắng việc đời; họ tìm cách làm đẹp lòng vợ, thế là họ bị chia đôi” (1Cr 7, 32-33). Người phụ nữ tốt lành kia mà bạn nói tới sẽ không nên phật lòng vì câu trả lời của tôi. Nếu Chúa là Đấng quan tâm đến điều tốt nhất cho tất cả mọi người chúng ta, thì người sẽ kêu gọi cô ấy lập gia đình. Người sẽ không thiếu cách gởi đến cho cô ấy một người chồng sáng giá và thánh thiện, như người đã gởi người con trai của Tobia đến với Sara”.

Tóm lại, lời nhắn tin của Lu-i-si-ta đã đến quá muộn bởi vì tình yêu của Thiên Chúa đã nung nấu tâm hồn bác sĩ Pampuri hơn bất cứ tình yêu nào khác. Bác sĩ hay nhắc đến tình yêu lớn hơn này khi nói chuyện, điều mà đứa cháu trai của ngài đã làm chứng.

Nhắc lại kỳ nghỉ hè ở với cậu Ricardo tại Morimondo, cháu bé kể rằng : “Tình yêu Thiên Chúa của “cậu” thật lớn lao. Cậu nói về Chúa về Đức Mẹ với một vẻ say mê đến từ đáy lòng như thể cậu nói về cha mẹ hoặc một người bạn thân. Nhìn thấy cậu, cháu thật ngạc nhiên, bởi vì đối với cháu, Thiên Chúa là Đấng cao xa đối với mọi sự mà cháu trông thấy và tưởng tượng được. Ngược lại đối với bác sĩ Pampuri, Thiên Chúa là một thực tại cảm thấy được sờ sờ, không có Người bác sĩ không thể sống được. Thánh danh Người luôn ở trên môi miệng ngài. Thậm chí khi chúng tôi đi chơi ở rừng cây dẻ, nếu chúng tôi thấy một cây dẻ to và đẹp thì bác sĩ cũng nói đó là một quà tặng của Chúa. Một hôm, cháu nói với bác sĩ : “Loài muỗi đốt chúng ta cũng là một quà tặng đẹp của Chúa”. Bác sĩ trả lời với một nụ cười : “Chúa đã chịu đau khổ nhiều mà chúng ta lại kêu ca vì muỗi đốt ở đây”.

Khi người ta yêu mến Chúa nhiều, tất cả mọi điều hay ho khác đều mờ nhạt, tất cả mọi nguyện vọng đều mất sức hấp dẫn, chỉ còn lại ước muốn duy nhất là chứng tỏ tình yêu Ngài một cách triệt để nhất.

MƠ ƯỚC CŨ

Được lửa mến Chúa thúc đẩy, bác sĩ Pampuri cảm thấy tái phát trong mình nguyện vọng thời niên thiếu đối với đời sống tu. Do đó, trong mùa hè 1923, ngài cố gắng xin vào dòng Tên.

Nỗ lực này được miêu tả trong lá thư gửi Sr. Longina vào tháng 9 năm 1923. Ngài đã thuật lại sự thất bại với một sự bình tâm không lay chuyển, trong việc chọn một chương trình thay đổi đời sống nghề nghiệp mà ngài đã theo đuổi.

Bác sĩ viết : “Về cuối tháng vừa qua, sau một tuần tĩnh tâm, tôi quyết định trở thành một tu sĩ dòng Tên. Tuy nhiên, em nghi ngờ về tình trạng sức khoẻ của mình. Đúng vậy, bản tường trình y tế không thuận lợi đã đặt dấu chấm dứt nguyện vọng của em.”

“Em giải thích trở ngại này, cũng nhờ lời khuyên khôn ngoan của chị, như một sự biểu lộ ý Chúa rõ ràng. Em không mong muốn gì hơn là luôn phục tùng ý Chúa với một sự phó thác hoàn toàn. Em tin dứt khoát rằng đối với em tốt nhất là cứ bình tĩnh theo đuổi con đường sống đã dấn bước vào”.

“Hơn bao giờ hết, em mạnh mẽ xin chị cầu nguyện cho em để em tiến bước trên con đường với một tinh thần bác ái sâu xa và bền bỉ. Bởi vì chỉ trong tinh thần này, chắc chắn em sẽ thực hiện được mục tiêu đời đời của em”.

“Xin chị cầu nguyện để tính kiêu căng, tính ích kỉ và tất cả các nết xấu khác không ngăn cản em luôn nhìn thấy Chúa Giêsu trong các bệnh nhân của em, mà chăm sóc cho người, an ủi người, đang chịu đau khổ để đền tội cho em bởi vì Người yêu thương em vô cùng.”

“Với những ý nghĩ luôn sống động trong tâm hồn như thế, việc hành nghề của em thật ngọt ngào và hiệu quả biết bao!”.

Trong cũng năm 1923, bác sĩ Pampuri, đang giữ chức vụ chủ tịch ủy ban truyền giáo của giáo xứ, đã gặp một linh mục tốt, tu huynh Ricardo Beretta, làm việc trong hội truyền giáo của giáo phận. Ngay từ ban đầu, hai người đã hiểu nhau và tu huynh Beretta, đã làm cha linh hướng cho bác sĩ trong thời gian ngắn.

Bác sĩ Pampuri đã tâm sự với tu huynh Beretta về ước muốn mà ngài không thực hiện được do sức khoẻ yếu kém. Ngài đã thuật lại ý kiến của chuyên gia phổi Morelli: vào lúc này bác sĩ Pampuri không cần thiết phải giữ gìn, mặc dầu trong tương lai hầu như không có hy vọng biến chuyển thuận lợi của bệnh ho lao cũ.

Lời chứng sau này của tu huynh Beretta khẳng định: “Chúng tôi đã suy nghĩ và cầu nguyện với nhau trong nhiều năm. Cuối cùng, đối với tôi kế hoạch của Thiên Chúa về người bác sĩ trẻ là trở thành tu huynh trợ thế. Suy nghĩ của tôi hướng chiều về điều này do nhiều hoàn cảnh xét chung với nhau”.

Trong các bạn lớp cũ của tu huynh Beretta, có một người bạn thân. Tu huynh Za-ca-ri-as Castelletti, đang làm bề trên tỉnh dòng Milano các tu huynh trợ thế Thánh Gioan Thiên Chúa. Năm 1926, tu huynh Beretta quyết định nói với thầy về trường hợp của bác sĩ Pampuri. Khi hiểu ra trường hợp khác thường này, tu huynh Castelletti kêu lên rằng: “Bác sĩ mà muốn làm thành viên thực thụ của dòng chúng ta cho dù chỉ một ngày thôi, ngài sẽ được đón nhận. Ở dưới đất, ngài sẽ là con đường chỉ lối cho chúng ta; trên trời, ngài sẽ là thiên thần bản mệnh cho chúng ta”.

CÁC TU HUYNH THÁNH GIOAN THIÊN CHÚA

Các tu huynh thánh Gioan Thiên Chúa là một dòng trợ thế, cống hiến cho việc chăm sóc thể lý và tinh thần các bệnh nhân và những người hấp hối, những người khuyết tật tâm thần và thể lý, những người già cả và những người thiếu thốn, bất kể cá nhân và tôn giáo của họ như thế nào.

Đấng sáng lập là một người Bồ Đào Nha khiêm tốn, Gioan Cidade, ngài đã nhận được tại Granada, Tây Ban Nha tên đạo là Gioan Thiên Chúa, bởi vì ngài thực sự là một “người của Thiên Chúa” đối với những nhu cầu của xã hội.

Trong năm 1538, việc ngài phải ở trong bệnh viện hoàng gia Granada với những điều kiện thê thảm đã thuyết phục ngài thành lập một bệnh viện mới, hầu có thể cung cấp một sự chăm sóc nhân bản hơn cho bệnh nhân. Ngài đã thực hiện ước mơ đó và đã thành lập một bệnh viện tại thành phố đó. Ngài đã xoay xở một mình cho tới cuối năm 1546, mới có mấy đồ đệ đến với ngài.

Sau khi ngài qua đời ngày 08.3.1550, các đồ đệ của ngài đã thành lập nhiều bệnh viện tại Tây Ban Nha và cả bên Ý. Sự bành trướng đã trở nên mau chóng hơn sau khi Đức Giáo Hoàng Piô V chấp thuận Dòng năm 1572.

Các tu huynh Thánh Gioan Thiên Chúa đã tới Manila năm 1611, tại đây các tu huynh đã thành lập các bệnh viện tại Ermita, Intramuros và Islade, Convalecencia ở sông Pasig. Các Tu huynh cũng thiết lập các bệnh viện tại Cavite, San Rafael de Bulacan, tại thành phố Cebu và thành phố Zamboanga.

Tại Phi-lip-pines, người nghèo vì biết ơn lòng bác ái của các Tu huynh đã gọi các thầy là các “Juaninos”, nghĩa là các “Gioan nhỏ”, thay vì tên chính thức là Tu huynh Thánh Gioan Thiên Chúa.

Tại Ý, các Tu huynh được tặng cho một biệt hiệu là “Fate Bene Fratelli” nghĩa là “Anh em, hãy làm tốt”. Biệt hiệu này là do các thầy khi đi ăn xin thường có thói quen hát câu điệp khúc của đấng sáng lập : “Anh em, hãy làm tốt cho chính mình vì lòng mến Chúa”. Qua những lời này, Thánh Gioan Thiên Chúa muốn nói rằng những người cho, lại nhận được công phúc từ của làm phúc, bởi vì vào lúc cuối đời mỗi người sẽ bị phán xét tuỳ theo mức độ mở rộng lòng bác ái của mình. Ở đoạn 25 phúc âm Thánh Matthêô, chúng ta có thể đọc cảnh tượng ngày phán xét, lúc mà chúng ta sẽ được thưởng hay bị phạt căn cứ vào những gì chúng ta cho hay không cho Chúa Kitô qua những người láng giềng của chúng ta, đặc biệt những người nghèo khó và thiếu thốn. Việc Đức Kitô đồng hóa mình với những người láng giềng của chúng ta là hậu quả của việc nhập thể, lúc mà Đức Kitô đã làm người và đã kết hợp nhân loại như là thân thể mầu nhiệm với người. Do đó, ai làm điều gì cho các thành phần của thân thể mầu nhiệm là làm cho chính Đức Kitô là đầu thân thể mầu nhiệm. Thánh Gioan Thiên Chúa đã gắn chắc lý do hiện sinh của mình vào chính niềm tin có sự đồng hoá nhiệm mầu giữa Đức Kitô và người láng giềng của mình, đặc biêt những người đau khổ.

Trong năm 1886, giáo hội đã công bố Thánh Gioan Thiên Chúa và Thánh Camillô đệ Lellis là bổn mạng các bệnh nhân và các bệnh viện. Trong năm 1930, hai vị thánh nhân lại được công bố là bổn mạng các nhân viên y tế.

Sự chọn lựa được căn cứ trên sự kiện là Thánh Gioan Thiên Chúa quan tâm một cách không giới hạn đến mọi người đau khổ trong nhân loại.

Sự dấn thân tự tình và quảng đại của Thánh Gioan Thiên Chúa xuất phát từ niềm tin rằng trên bộ mặt con người đau khổ, mặc dầu tiều tụy, có thể rạch ra nhưng bộ mặt của Đức Kitô.

Có một sự giống nhau lạ thường giữa thái độ của Thánh Gioan Thiên Chúa và của bác sĩ Pampuri, như người ta có thể thấy trong lá thư đã được trích dẫn gửi cho Sr. Longina, trong đó ngài khẳng định rằng dự định đời sống của ngài là “luôn nhìn thấy Chúa Giêsu trong các bệnh nhân”.

Tay trong tay với thái độ giống nhau, lại còn hành động giống nhau thật đáng được làm nổi bật.

Được biết khi Thánh Gioan Thiên Chúa đi bộ đội, ngài đau khổ khi thấy “những con ngựa mập, mình thì láng và có áo choàng đẹp, đang khi người nghèo thì ốm yếu và không có áo quần mà mặc”. Cũng vậy, Lu-y Tacchini, một người bạn tuổi thơ của bác sĩ Pampuri, làm chứng rằng khi người cậu của bác sĩ tặng bác sĩ một chiếc xe ngựa, mà con ngựa thì cứ thay đi thay lại áo choàng hoài. Điều đó xảy ra cứ mỗi lần bác sĩ sẽ đi thăm các gia đình nông thôn, mà thấy người bệnh run rẩy vì không có chăn, thì ngài cho họ cái áo choàng của con ngựa.

Cứ khi nào gặp ai mà ăn mặc xác xơ, thì Thánh Gioan Thiên Chúa thường cho họ áo quần của mình. Bác sĩ cũng làm như thế. Nhiều lần, người ta thấy ngài đang cho người nghèo cái áo “vét” hoặc giầy của ngài ở ngoài đường phố.

TÊN MỚI

Theo sự gợi ý của cha linh hướng, bác sĩ Pampuri quyết định làm đơn chính thức xin vào dòng trợ thế ngay 06.6.1927.

Bà con họ hàng lo lắng vì sức khỏe yếu kém của ngài, đã cố gắng can ngài. Tuy nhiên, ngày 22.6 ngài đã dứt khoát rời khỏi Morimondo để vào trung tâm đào tạo của dòng trợ thế ở Brescia. Sau ba tháng dự tu, ngài bắt đầu nhà tập ngày 21.10, nơi mà ngài nhận tên mới là tu huynh Ricardo. Tu huynh Castelletti đặt cho ngài tên này để vinh danh tu huynh Ricardo Beretti, là bạn của hai người.

Khi một người đi tu, trong thời gian Tập viện người ấy có cơ may để học luật buộc của đời sống mới và để kiểm điểm xem mình có hợp đời sống đó không. Chỉ sau khi đã làm việc này, người ấy mới được nhận vào khấn dòng, làm một sự cam kết chính thức trước mặt Giáo hội để sống theo lý tưởng đã chọn lựa.

Sau Tập viện, Tu huynh mới khấn bắt đầu chuẩn bị làm việc tông đồ của hội dòng. Bởi vì các Tu huynh Thánh Gioan Thiên Chúa có sứ mạng chăm sóc các bệnh nhân và người nghèo, cho nên các Tu huynh được kêu gọi học các môn đặc biệt theo sở thích cá nhân : y khoa, điều dưỡng, kỹ thuật y tế, dược khoa, công việc xã hội, v.v. Một số Tu huynh cũng được kêu gọi lãnh chức vụ linh mục.

Thật vậy, các Tu huynh Thánh Gioan Thiên Chúa là một Dòng các người giáo dân, nhưng như là biệt lệ, các Tu huynh có thể có một hoặc tối đa là hai linh mục cho mỗi cộng đoàn; các vị trú ngụ tại chỗ để làm cha linh hướng cho bệnh viện.

Đương nhiên, bác sĩ Pampuri không cần chuẩn bị nghề nghiệp vì đã là bác sĩ rồi. Do đó, vào tháng 5 năm 1928 bác sĩ đã được trao phó cho phòng răng miễn phí ở Brescia.

Trước năm 1928, các phòng răng bên Ý được điều hành bởi các y sĩ, chứ không bởi các bác sĩ nha khoa như ngày nay. Việc điều hành một phòng răng thì không khó, cho nên các Tu huynh của Thánh Gioan Thiên Chúa thường có một phòng răng miễn phí giúp ích cho người nghèo.

Cũng đúng là trường hợp ở Brescia và vì lí do này các Tu huynh Thánh Gioan Thiên Chúa rất được dân chúng mộ mến.

Trong năm 1928 và trong nhiều thập kỳ lưu hành một đạo luật mới, giới hạn việc chữa răng cho các bác sĩ mà thôi.

Cũng trong năm 1928, bác sĩ Pampuri là bác sĩ duy nhất trong các Tu huynh Cộng đoàn Brescia. Vì lí do đó, phòng răng miễn phí đã được trao phó cho ngài hơn là bị đóng cửa.

Ngày 3 tháng 5, bác sĩ Pampuri đã chính thức liên hệ với sở y tế của thành phố để báo tin cho sở biết về việc bác sĩ bắt đầu hoạt động như là giám đốc bệnh viện răng miễn phí cho người nghèo.

BÁC SĨ PAMPURI LÀM NHA SĨ

Lòng bác ái của bác sĩ Pampuri và hơn thế nữa sự ưu ái đối với người nghèo đã đồn ra chỉ trong một thời gian ngắn. Đôi khi dân chúng thường đi tới bệnh viện răng, không phải vì họ có vấn đề với việc răng nhai, nhưng bởi vì họ không có gì để nhai. Tu huynh Ricardo luôn sẵng sàng giúp đỡ những bệnh nhân đặc biệt này. Kết quả là các Tu huynh bắt đầu cung cấp đều đặn thực phẩm cho người nghèo.

Trong việc làm bác ái, bác sĩ luôn thận trọng nương rẹ tình cảm của tha nhân. Đôi khi ngài bày tỏ điều đó bằng cách nói chuyện hài hước thân thiện với bệnh nhân của ngài. Chẳng hạn một lần kia, một cậu bé ăn mặc xú xớ đến bệnh viện của ngài vì bị đau răng kinh khủng, Tu huynh Ricardo chữa răng cho cậu bé và nói một cách nghiêm nghị bảo cậu bé trả tiền. Cậu bé ngạc nhiên trả lời : “Nhưng con không có tiền”. Vậy Tu huynh Ricardo đã để vào tay cậu bé hai tờ và bảo: “Vì con không có tiền trả bác sĩ, thì bác sĩ trả tiền con”.

Dân chúng từ các tầng lớp khác nhau cũng nhận từ Tu huynh Ricardo nhiều hơn là việc chữa răng. Có trường hợp của một bà giàu có, bà đã được nha sĩ khác chữa trong thời gian lâu dài, nhưng không có dấu hiệu khả quan. Bà quyết định đi thử chữa với bác sĩ Pampuri. Khi từ bênh viện của Tu huynh Ricardo về nhà, bà đã gặp Tu huynh Castelletti và bà đã nói với Tu huynh “Tu huynh biết không, Tu huynh kia thật là giỏi! Tất cả những khổ sở quá khứ hết rồi và hơn nữa…” Tu huynh Castelletti ngắt lời “Và hơn nữa …, có thể Tu huynh ấy đã giảng cho bà … bà hãy sử dụng những bài giảng đó làm lợi cho mình”. Bà trả lời: “Không thật ra thì Tu huynh ấy nói ít lắm! Tu huynh tôn trọng tôi, Tu huynh hỏi han một cách lịch sự, giữ đúng phép trong cách lựa lời nói. Tu huynh đã khám phá và chữa cho tôi một cách tế nhị mà tôi không biết miêu tả làm sao. Điều duy nhất tôi có thể nói với Tu huynh là với những nha sĩ khác thì tôi cảm thấy cách chữa của họ, còn với Tu huynh này tôi chẳng cảm thấy gì, tôi cũng chẳng có cơ may nhìn vào mắt ngài … đúng thật, Tu huynh ấy chẳng phải là một người bình thường mà là một thiên thần”.

Danh tiếng Tu huynh thiên thần này nhanh chóng đồn ra khắp nơi thành phố Brescia, đến nỗi các bà mẹ thường đưa con đến xin ngài ban phép lành cho chúng. Tuy nhiên, vì lòng khiêm tốn, Tu huynh Pampuri bị bối rối, bởi vì ngài tin rằng phải là linh mục mới được ban phép lành. Vấn đề đã được giải quyết khi Tu huynh Castelletti gợi ý cho ngài rằng : “Thay vì ban phép lành cho các em, Tu huynh có thể kêu xin Đức Bà hoặc Đấng sáng lập của chúng ta, Thánh Gioan Thiên Chúa, cầu bầu cho các em theo như ý xin của các bà mẹ”.

HƯỚNG VỀ TRỜI 

Bác sĩ Pampuri đã được nhận cho tuyên khấn ngày 24.10.1928

Khi báo tin vui này cho Sr. Longina, Ngài hoan hỉ nhấn mạnh: “Cuối cùng thì chúng ta được kết hợp mật thiết hơn với nhau trong tình yêu và trong dây liên kết chung của các lời khấn thánh thiện”. Lời “cuối cùng“ nói lên hơn cả ngàn lời ước nguyện không phai mờ được nuôi dưỡng trong biết bao năm trời.

Trong tuần lễ tĩnh tâm chuẩn bị khấn, Tu huynh đã ghi chép lời quyết tâm làm các việc, dù là việc nhỏ, việc nhỏ xíu vì lòng mến Chúa nhiều.

Tu huynh Ricardo chẳng có dịp cũng chẳng có thời giờ để làm những việc lớn lao bởi vì Tu huynh chỉ còn sống được 2 năm nữa. Tuy nhiên, trong những việc nhỏ hằng ngày, ngài đã thành tâm giữ sự quyết tâm, với một sự trung thành thật khó tin. Chính những sự dấn thân hăng ngày này đã đưa ngài tới đỉnh cao sự thánh thiện.

Thật vậy, chính Ricardo đã viết cho người cháu Gioan Pampuri tháng 10 năm 1928: “Trong nhà Chúa không có gì là nhỏ, thậm chí cả công việc nhỏ xíu vẫn luôn là lớn lao và đầy công phúc, đặc biệt nếu nó được làm với tình yêu Chúa nhiều”.

Không may, vào mùa xuân năm 1929, bệnh ho lao lại nặng ra một cách bất khả kháng. Tu huynh Ricardo rất ý thức về cái chết đang từ từ đến và ngày chuẩn bị chờ đợi nó với một sự thanh thản như thường.

Ngày 21.11.1929, việc ho ra nhiều máu là dấu chỉ sức khoẻ của Tu huynh Ricardo bị sa sút trầm trọng. Mọi phương tiện có thể có đã được vận dụng để chữa cho ngài nhưng tất cả đều vô ích.

Vào giữa tháng 4 năm 1930, nhiều lần ho ra máu, chặng cuối cùng của bệnh tình đã đến. Ngày 18.04 ngài được chuyển từ Brescia tới bệnh viện các Tu huynh trợ thế tại Milano để tiện cho gia đình đến thăm.

Việc phải ở một chỗ cho phép ngài có dịp tiếp tục làm việc tông đồ. Ngài làm hiệu cho các bạn lớp đến, họ đang hành nghề y tại Milano. Lý do rõ ràng là để từ biệt các bạn, mặc dầu mục đích chính là khích lệ các bạn lần chót theo đuổi các giá trị Kitô-giáo.

Ngoài những người mà ngài mời đến, nhiều người khác đã đến thăm ngài. Giường bệnh của ngài đã trở thành một nơi hành hương sốt sắng, lôi cuốn nào là bác sĩ, bà con họ hàng và dân chúng từ những nơi mà ngài đã hành nghề. Khi những người khách ra về, ngài nói: “Hẹn gặp nhau nơi thiên đàng”.

Trong những người khách đến thăm có Tu huynh Beretta là người đã mang đến cho ngài của ăn đàng. Tu huynh Ricardo mượn dịp này để hỏi cha linh hướng của mình: “Thiên Chúa sẽ nhận con vào nước Người như thế nào?” Trước khi Tu huynh Beretta chưa kịp nói điều gì, Tu huynh Ricardo đã ngước mắt lên trời và nói tiếp: “Con đã yêu mến Người rất nhiều và con vẫn yêu mến Người như thế”.

Những lời cuối cùng này cho thấy hoàn toàn bí quyết sự thánh thiện của ngài lòng yêu mến Chúa mỗi ngày một hơn. Chỉ có lòng mến Chúa này biến đổi tâm hồm của một con người thành viên ngọc thất quý giá để dâng lên Thiên Chúa.

CÁI CHẾT CỦA TU HUYNH RICARDO

Trong những ngày cuối cùng, Tu huynh Ricardo là người sùng kính Đức Bà, đã bày tỏ nhiều lần nguyện vọng được tắt thở trong tháng 5 kính Đức Mẹ. Quả thật, ngài đã chết trong bình an tối ngày mồng 1 tháng 5 năm 1930, sau khi lãnh nhận bí tích sau cùng.

Các Tu huynh đã quàng thi thể của ngài trong một phòng đặc biệt, ở đó trong ba ngày, bạn bè và các bệnh nhân cũ lũ lượt kéo đến chào từ biệt ngày.

Ngày Chúa nhật, mồng 4 tháng 5, thánh lễ trọng thể đã được cử hành trước quan tài của ngài lúc 9:00 sáng trong nhà nguyện bệnh viện Milano. Sau thánh lễ, quan tài của ngài đã được đưa về nhà người cậu ở Torino, bởi vì Dòng Trợ Thế cho phép bà con họ hàng chôn cất Tu huynh Ricardo trong phần mộ gia đình tại nghĩa địa Trivolzio.

Thoạt khi thi hài vừa tới Torino, một số đông dân chúng khác thường đã tụ tập ở đó để chào từ biệt Tu huynh. Đoàn rước an táng khởi đầu lúc 4:00 chiều. Đám đông dày đặc đến nỗi khi vị chủ sự tới nhà thờ xứ Trivolzio, cách xa hơn bốn cây số mà quan tài vẫn còn ở Torino.

Những thành viên trẻ hiệp hội công giáo của giáo xứ đã tình nguyện khiêng quan tài của Tu huynh Ricardo trên vai suốt quãng đường đưa tới nhà thờ giáo xứ, chứ không đặt trên xe.

Sau những nghi thức cuối cùng ở nhà thờ giáo xứ, thi hài được đưa tới nơi an nghỉ ở nghĩa địa Trivolzio. Trong những lời từ biệt được phát biểu trước thi hài, thì những lời của cha sở Trivolzio gây ấn tượng mạnh nhất, cha nhấn mạnh rằng toàn cảnh là một buổi lễ lớn hơn là một đám tang. Hơn nữa, cha nói: “Hôm nay, chúng ta đến đây để tháp tùng Tu huynh ra nghĩa địa, nhưng có thể một ngày nào đó những người khác sẽ lại đến đây lấy thi hài mà đặt trên bàn thờ”.

Bởi vì chỉ có các thánh mới được chôn ở dưới bàn thờ, sự thực hiện lời tiên tri này phải đợi mấy năm cho tới khi Tu huynh Ricardo được làm thánh. Hiển nhiên, chỉ có Thiên Chúa mới làm nên các thánh, nhưng theo thỉnh nguyện thì giáo hội tiến hành thủ tục để nhận diện sự thánh thiện phi thường. Những bước chính của thủ tục là: chấp nhận sự thỉnh nguyện để minh xét những lời khai của những nhân chứng đáng giá và để phê phán liệu ứng viên có tất cả các nhân đức ở cấp độ anh hùng không. Giáo hội cũng đòi hỏi những dấu chỉ thánh đức dưới dạng phép lạ, những vụ khỏi bệnh mà thường y học không giải thích được, nay nhận được nhờ lời khấn với vị đang xin được phong thánh. Cần có ít nhất hai phép lạ, được kiểm chứng theo những điều kiện nghiêm khắc để được phong chân phước, và thêm một phép lạ nữa để phong thánh.

PHONG CHÂN PHƯỚC

Ngay sau khi tu huynh Ricardo được chôn cất, dân chúng bắt đầu hay tới mộ ngài để cắm hoa và cầu nguyện. Lòng sùng kính không ngớt của dân chúng đã thuyết phục các Tu huynh trợ thế thỉnh nguyện giáo hội chính thức công nhận sự công chính của Tu huynh Ricardo. Tuy nhiên, vì cuộc chiến thế giới thứ hai bùng nổ, nên các Tu huynh chỉ bắt đầu thu thập tài liệu cần thiết vào năm 1947.

Năm 1949 Toà Thánh cho phép Đức Giám Mục Milano mở vụ án phong chân phước. Năm 1951, sau khi kết thúc nghe các chứng nhân, hài cốt của Tu huynh Ricardo được bốc từ nghĩa địa và di về nhà thờ xứ Trivolzio. Ngài lại được chôn cất bên cạnh giếng rửa tội, nơi mà ngài đã được rửa tội.

Sự hiện diện của hài cốt Tu huynh Ricardo đã biến nhà thờ xứ thành một nơi hành hương. Nhiều người từ những nơi xa xôi đi hành hương đến để cầu xin được phép lành và ơn huệ nhờ lời chuyển cầu của ngài và nhiều người đã được ơn.

Đã xảy ra một số phép lạ thật nhờ lời chuyển cầu của Tu huynh Ricardo. Trong số đó ba phép lạ đã được giáo hội chính thức nghiên cứu và chấp thuận.

Phép lạ thứ nhất là vụ khỏi bệnh tức khắc của anh Adeodato Comand. Anh được nhập viện tại bệnh viện các Tu huynh ở Gorizia, Ý và phải giải phẫu chứng viêm màng bụng nặng. Bác sĩ giải phẫu đã mổ ra rồi khâu lại mà không tiến hành giải phẫu vì chỗ bệnh lan ra quá rộng. Bệnh nhân trở về phòng mà không còn chút hi vọng nào khỏi bệnh. Adeodato, bạn bè và bà con họ hàng quyết định đi khấn Tu huynh Ricardo. Sáng hôm sau, bác sĩ giải phẫu ngạc nhiên vì thấy Adeodato hoàn toàn khỏi bệnh.

Phép lạ thứ hai rất giống phép lạ trên. Năm 1953 Ferdinand Michelini, một kiến trúc sư và một hoạ sĩ được nhập viện tại bệnh viện các tu huynh tai Milano, nơi ông phải giải phẫu vì cũng một chứng viêm màng bụng nặng. Trong phòng giải phẫu, bác sĩ giải phẫu không giải quyết nổi vấn đề và bảo đưa bệnh nhân về, mà không có chút hy vọng sống sót nào. Một tu huynh trợ thế bảo ông đi khấn tu huynh Ricardo. Sáng hôm sau, kiến trúc sư được khỏi bệnh. Từ đó trở đi, vì lòng biết ơn, Ferdinand đã cống hiến việc phục vụ của mình cho việc thiết kế và trang trí các nhà thờ bên Tây Phi và bên Thánh địa.

Hai vụ việc này đã được cho nghiên cứu và cuối cùng được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II chấp thuận là phép lạ thật vào tháng 3.1981. Sự chấp thuận này là một trong hai điều kiện cần thiết tiên quyết để công nhận sự thánh thiện của tu huynh Ricardo. Điều kiện kia là việc khảo sát đời sống đạo đức của tu huynh. Trong trường hợp của tu huynh Ricardo, việc khảo sát khởi sự năm 1949, đã mang lại những kết quả tích cực, được Đức Giáo Hoàng Phaolô II chấp nhận tháng 6.1978.

Với hai yêu cầu được hoàn thành một cách mỹ mãn, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã quyết định công bố ngài là chân phước ngày 01.5 là ngày lễ vị chân phước mới Ricardo Pampuri. Theo đúng tục lệ, ngày chết được chỉ định là ngày lễ, bởi vì đối với mỗi vị thánh lúc chết mới thật là lúc sinh ra cho đời sống vui vẻ trên trời.

Một truyền thống vốn có của giáo hội là lập bàn thờ trên mồ của các thánh. Vì lý do này, trong nhà thờ xứ Trivolzio, thì hài của chân phước Ricardo Pampuri được đặt dưới bàn thờ nghệ thuật đã có trước, để ứng nghiệm lời tiên tri được thốt ra trong đám tang của từ huynh.

TỪ MỘT VỊ CHÂN PHƯỚC TỚI MỘT VỊ THÁNH

Khi Đức Giáo Hoàng công bố một vị là chân phước thì ngài cho phép việc tôn kính vị ấy trong phạm vi các nhóm quy tụ thành những hiệp hội đặc biệt chung quanh vị ấy. Việc tôn kính một vị chân phước trên toàn thế giới chỉ được cho phép sau khi vị ấy được công bố là thánh, nhưng muốn được như vậy cần có một phép lạ nữa từ vị chân phước.

Trong trường hợp tu huynh Ricardo, đã có phép lạ thứ ba, chỉ mấy tháng ngài được công bố là chân phước, vào tháng giêng năm 1982 tại Alcadozo, một thị trấn nhỏ bên Tây Ban Nha, một bé trai mười tuổi, chẳng may bị một nhánh cây nhỏ chọc vào mắt. Bác sĩ địa phương bảo phải đưa cháu tới một bác sĩ chuyên khoa mắt tại thủ phủ của tỉnh, là Albacete. Bác sĩ chuyên khoa đã để băng trên vết thương và nhỏ thuốc giảm đau vào. Bác sĩ khoa mắt bảo em sau mấy hôm thì trở lại xem có cần giải phẫu không. Khi về tới thị trấn nhà, bé trai định đi ngủ vì mắt bị đau quá, bé không chịu lấy băng ra để nhỏ thuốc vào. Người cha đặt ảnh chân phứơc Ricardo vào trong băng mắt và cả gia đình khấn xin cho vết thương được lành. Sáng hôm sau khi Manuel thức dậy, mắt đã khỏi một cách lạ lùng. Vì lòng biết ơn, từ ngày ấy trở đi hằng ngày Manuel đọc lời kinh mà chính em làm: “Lạy chân phước Ricardo Pampuri, người đã yêu thương và hy sinh biết bao trong cuộc sống ở đời này, xin giúp con biết hy sinh cho tha nhân và mến Chúa mỗi ngày một hơn”.

Tháng giêng năm 1989, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã chấp thuận sự khỏi bệnh lạ lùng nói trên và vì thế đã quyết công bố bác sĩ Pampuri là một vị thánh ngày 01.01.1989.

Nghi lễ phụng vụ được cử hành tại quảng trường thánh Phêrô để cho có nhiều người hơn tham dự. Ở mặt tiền nhà thờ có trưng bức tranh lớn Thánh Ricardo với tay để trên vai Manuel Cifuentes, bé trai đã được ngài chữa lành một cách lạ lùng. Manuel và gia đình em đã tham dự buổi lễ phong thánh. Lúc dâng lễ vật trong thánh lễ, Manuel và em trai cậu đã tiến dâng bánh lễ và rượu nho lên Đức Giáo Hoàng một cách bất ngờ, Đức Giáo Hoàng đã thong thả nói chuyện lâu với Manuel.

Kiến trúc sư nhắc đến ở trên cũng có mặt ở quảng trường Thánh Phêrô. Ngay sau thánh lễ, Đức Giáo Hoàng đã tiếp kiến ông cùng Manuel Cifuentes và Tu huynh Cesar Gnocchi, là người bạn nhà tập duy nhất còn sống của Thánh Ricardo.

Đức Giáo Hoàng cũng trò chuyện với mấy Tu huynh Thánh Gioan Thiên Chúa người Philippines đã được đặc ân giúp lễ cho Đức Giáo Hoàng trong thánh lễ phong thánh Ricardo. Khi trở về Philippines, các Tu huynh trên đây đã mạnh mẽ nêu ý kiến lấy tên vị thánh mà đặt tên cho nhà sắp thành lập để kính ngài. Điều này đã được thực hiện ngày 29.6.1990 khi trung tâm Thánh Ricardo được thành lập tại Amadeo, Cavite.

Sự tôn sùng vị thánh mới không chỉ lan tràn tại Philippines mà còn trên khắp thế giới, đặc biệt trong giới các bác sĩ y khoa.

Nhà sản xuất Spring phát hành tờ báo Liên Đoàn Quốc Tế hiệp hội các bác sĩ công giaó đã chỉ ra từ đời sống Thánh Ricardo Pampuri ba bài học cho các y sĩ công giáo. Đó là:

Thứ nhất, vị thánh không thấy có xung khắc giữa khoa học và đức tin. Bác sĩ Pampuri là một người có nhiều kiến thức nghề nghiệp, ngài đã viết: “Những đại khoa học gia với tâm hồn và lòng trí trong sáng, không bị tính phô trương làm hư hỏng, thì không bao giờ thấy có mâu thuẫn giữa khoa học và đức tin. Kiến thức sâu xa có được về các điều bí nhiệm của thiên nhiên chỉ soi sáng và tăng cường đức tin của họ. Sự phối hợp các định luật thiên nhiên đã đưa các nhà khoa học đến việc yêu mến và ca ngợi sự tốt lành và sự khôn ngoan vô cùng của Đấng Tạo Hoá”.

Thứ hai, đời sống của vị Thánh xét theo tiêu chuẩn loài người thì ngắn ngủi, khiêm tốn và không mấy thành công. Tuy nhiên, ngài đã cảm thấy hạnh phúc dạt dào, vì những gì ngài đã thực hiện với một tình yêu nồng cháy.

Thứ ba, ngài biết cách nhìn các bệnh nhân bởi vì Chúa Giêsu muốn được đón tiếp, nhìn nhận và phục vụ nơi những người đau khổ. Vì vậy, các bệnh nhân mà nhiều lúc gây phiền toái và trở ngại cho người ta, lại là những người được Thánh Ricardo ưu ái nhất, bởi vì họ là những dấu chỉ sống động của Thiên Chúa.

Gương lành của Thánh Ricardo có thể giúp những người dấn thân trong việc chăm sóc y tế đạt được dễ dàng lòng mến Chúa. Họ sẽ thấy lời nguyện phụng vụ trong lễ kính Thánh Ricardo Pampuri rất thích hợp và hữu ích trong các hoạt động của họ:

“Lạy Chúa, là Cha chúng con đã ban cho Thánh Ricardo Pampuri được ơn biến đổi nghệ thuật y khoa thành việc Tông đồ bác ái. Xin ban cho chúng con nhờ gương sáng và lời chuyển cầu của ngài biết bắt chước lòng nhân hậu của ngài trong việc phục vụ người nghèo và bệnh nhân”.

KINH KÍNH THÁNH RICARDO PAMPURI

Lạy Thiên Chúa toàn năng, là đấng có thể làm được tất cả mọi sự, chúng con tạ ơn Chúa vì những gì Chúa thực hiện nơi các thánh của Chúa.

Chúng con cầu xin Chúa làm cho nhân sinh quan của thánh Ricardo Pampuri được lan rộng: bệnh tật của bản thân Người làm cho Người rất cảm thương những bệnh nhân, chăm sóc cho họ một cách đầy tình thương như một người anh em của Thánh Gioan Thiên Chúa.

Lạy chúa, xin ban cho chúng con nên giống Thánh Ricardo để không bao giờ mất niềm cậy trông. Nhờ sự chuyển cầu của Người, xin cho chúng con được mạnh sức để an ủi và yêu thương tha nhân, ngay cả khi chính chúng con bị đau yếu hoặc gặp khó khăn.

Chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô Chúa chúng con. Amen.

Tiểu sử thánh Ricardo Pampuri - Bản dịch của L.M Gioakim Đinh Thực

Dịch từ bản tiếng Anh :

Bro. Joseph P. Magliozzo. OH

San Ricardo Pampuri.

Holiness through the medical Profession .1992

Bro Joseph P. Magliozzi. OH

Đã dịch từ nguyên bản bằng tiếng Ý:

San Ricardo Pampuri

Một y sĩ say mê Thiên Chúa.

In lần II. Roma 1984